Hang động giả sự tồn tại các “Sư hổ mang” (Phần 2)

Lượng khách nước ngoài đến với lễ hội chùa Hương cũng không phải là nhỏ. Đến chùa Hương ngoài mục đích thăm cảnh đẹp của thiên nhiên, họ cũng có tâm lý cầu lộc, cầu tài cho gia đình, bạn bè. Nhưng đến đây, họ sẽ nghĩ gì khi thấy đền, chùa, hang, động giả nhiều hơn động thật (theo sơ đồ thắng cảnh Hương Sơn hiện nơi đây có 18 hang động đền thờ được nhà nước công nhận). Vợ chồng ông bà Alena ( quốc tịch Đức ) phàn nàn: “Phật giáo luôn khuyên người ta ăn ở hiền lành, không được gian dối. thế mà họ lại gian dối với cả đức Phật , còn khách như chúng tôi cảm thấy đau lòng vì bị lừa ngay ở chốn tâm linh”. Thượng tọa Thích Viên Thành – trụ trì chùa Hương cho biết: “Những ngày đầu của lễ hội chùa Hương năm nay ít khách hơn so với mọi năm. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là sự tồn tại của 42 hang động đền chùa giả. Đây là một sự xúc phạm lớn đến Phật giáo. Chúng tôi đã kiến nghị nhiều đến các cơ quan chức năng nhưng kiến nghị vẫn chỉ là… “kiến nghị”.
Bao giờ quyết định trên giấy đuợc thực thi?
Một điều lạ là: tại sao lúc họ vận chuyển nguyên vật liệu vào để xây dựng, chính quyền sở tại không kịp thời ngăn chặn và xử lý? Chẳng lẽ, chở nguyên vật liệu để xây một ngôi chùa rộng 159.5m2 như vậy tại động Phật Tích của ông Nguyễn Văn Đạo mà chính quyền địa phương cũng không biết chăng? Để chùa giả này nối tiếp động chùa giả kia, nguời xây sau cứ nhìn nguời xây truớc mà “kém miếng khó chịu” Thế là “nó xây mình cũng xây”.
Thực chất, các cấp lãnh đạo từ tỉnh đến xã đã xử phạt một số điểm: Đền suối Giải Oan của ông Nguyễn Hữu Nhu; tỉnh có công văn chỉ đạo và UBND huyện ra quyết định niêm phong, Động Tuyết Quỳnh – công an huyện xử phạt 1 triệu đồng, Động Hương Quang của Bùi Văn Sản phạt 600 ngàn đồng năm 1995… còn “giữ nguyên hiện trạng”. Thật nực cười, chùa động này được hoàn thiện năm 1996, thế mà đến tận năm 2000 mới thành lập biên bản lại cho, “giữ nguyên hiện trạng”. Để tiếp tục cho kinh doanh hay sao? Tất cả những hình thức xử lý của các cấp lãnh đạo từ tỉnh đến xã đều chưa triệt để, chỉ là “bắt cóc bỏ đĩa”, nộp phạt xong “ chủ nhang” vẫn được hoạt động công khai. Điều nay gây nên sự bất bình đẳng lớn đối với nhân dân. Trước tình trạng này ngày 10/1/2001 UBND tỉnh Hà Tây ra quyết định số 47QĐ/UB về việc xử lý công trình xây dựng và khai thác hang động vi phạm pháp luật trong khu vực di tích thắng cảnh Hương Sơn. Ông Lê Văn Nguyên – Phó Chủ tịch UBND huyện Mỹ Đức, phó ban thường trực lễ hội cho biết: ”Sau khi có quyết định của tỉnh, chúng tôi gọi 32 chủ nhang của 42 điểm giả đến để yêu cầu không được phép tổ chức kinh doanh. Nhưng vắng mặt chúng tôi, họ lại ngang nhiên hoạt động,…”. Trước sự bức xúc, kêu ca của du khách, ngày 4/2/2001 UBND huyện Mỹ Đức ra quyết định số 41/2001/QĐ – UB đình chỉ hoạt động 42 điểm nói trên. Cùng ngày UBND huyện ra quyết định số 47QĐ/UB thành lập tổ công tác thực hiện quyết định số 47QĐ/UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây. Cho đến ngày 4/2 khi tổ công tác thành lập thì vẫn chưa có quan điểm nhất quán về biện pháp xử lý những hang đền, chùa giả.
Diệp Hiền Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 7(172)2001

Hang động giả sự tồn tại các “Sư hổ mang” (Phần 1)

LTS: Lễ hội chùa Hương đã diễn ra được gần 1 tháng. Trước ngày khai hội, UBND huyện Mỹ Đức đã tổ chức một cuộc họp báo bàn về việc tổ chức lễ hội chùa Hương 2001. Trong buổi họp báo, lãnh đạo từ tỉnh đến huyện hứa hẹn sẽ giải quyết một loạt những tồn tại hang động giả, nạn ô nhiễm môi trường, ăn mày ăn xin… Nhưng nhiều du khách sau khi trảy hội về rất phiền lòng, đã gửi thư ánh đến tòa soạn. Để làm rõ vấn đề này, chúng tôi đã cử tổ phóng viên điều tra về địa phương tìm hiểu giả, thật bất phân minh!
Trước hết, cần khẳng định một điều chắc chắn rằng: Tính đến ngày 9/2, 42 hang động, đền thờ giả ở khu thắng cảnh Hương Sơn vẫn “sừng sững” tồn tại. Phần lớn du khách thập phương đến chùa Hương đều cung tiến nhầm vào những điểm giả mạo này. Trong số đó, nhiều người biết đền động giả vì chủ nhân của nó xây dựng y như… “thật” nên khách không thể phân biệt được thật giả. Vậy là thôi, đã bước chân đến đất phật thì cứ “thành tâm” hết thảy. Chị Lan Anh (du khách đến từ quận 6, TP. Hồ Chí Minh) bộc bạch: “Cũng biết chùa Hương có đền chùa giả, nhưng tôi không thể phân biệt được đâu là thật giả đâu là giả. Cũng nghi nghi ở một số điểm nhưng lại sợ đó là thật thì sao. Thôi, đã cất công ra đây thì cứ lễ bái thành tâm hết cho “chắc ăn”. Còn chị Lê Thị Thu (quê ở Đông Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương) than vãn: ‘Nếu không hỏi thì tôi cũng không biết ở đây người ta lấy đức Phật ra để… kinh doanh. Thật là đảo điên, vì tiền mà người ta có thể làm tất cả!…”
Những hang động giả trên Tuyết Huơng Tích là những nơi khách đến nhiều nhất bởi chúng nằm trên con đường dẫn đến động Hương Tích. Sáng ngày 9/2, chúng tôi có mặt tại chùa “Động Sơn Tích Thuỷ” của bà Cao Thị Thi. Tại khu vực thứng cảnh Huơng Sơn, cả gia đình bà Thi đã xây dựng lên 3 điểm để kinh doanh: Nguyễn Văn Truờng – con trai bà viứu “Thuỷ Tiên Tích Động” ; chồng bà, ông Nguyễn Văn Đạo với: Động Phật Tích”. Ông Đạo đã từng chịu án tù treo 2 năm về tội sử dụng chát nổ trái phép và vi phạm lệnh bảo vệ di tích thắng cảnh. Còn bà Thi, truớc kia khi tệ nạn ăn mày ăn xin vẵn còn “oanh tạc” trong mỗi mùa lễ hội thì bà đứng ra làm “oai” với những con người khốn khổ này (tức là mỗi ngày đi xin về họ phải nộp cho bà một khoản tiền thì mới được hoạt động). Đến nay những người ăn mày được gôm vào một chỗ, bà cùng gia đình lại “tu nhân tích đức” xây chùa để “cứu khổ cứu nạn” cho “đời”. có lẽ vì lòng “thành kính” mà trong bia ghi công đức để đúc chuông chùa “Động Sơn Tích Thủy” có tên tuổi của người dân trên khắp cả nước góp vào để bà trình lên Đức Phật. Còn trên con đường dẫn đến “Động Phật Tích” của ông Đạo, để hấp dẫn khách đầu lối đi, ông treo một loạt những bức ảnh đẹp của động Hương Tích, kèm theo lời giới thiệu của một “hướng dẫn viên’ đã quen nghề nhằm thu hút khách.
Chúng tôi đi tiếp đến “Đền suối Giải Oan” của ông Nguyễn Hữu Nhu. “Suối Giải Oan” ngay trước cửa đền mà theo lời giới thiệu nơi chín con suối đổ về. Trên vùng núi cao này mà có đến 9 con suối cùng tụ về một chỗ thì “linh thiêng” thật; bởi thế, mọi người cứ thay nhau khấn vái để mong giải được những oan ức trong lòng. Có lẽ vì “quá tải” do nhiều người trút oan ức xuống nên con suối cạn khô đến mức chủ nhân của nó phải… tát nước vào. Còn “Đền Giải Oan” thì vẫn ngang nhiên án mất cả lối đi dẫn đến Chùa Giải Oan thật. Đi đến một đoạn đường sẽ gặp biển chỉ dẫn lối đi vào Chùa Giải Oan (đây mới thực sự là điểm có trong sơ đồ thắng cảnh), thế là ai ai cũng phải “tầng ngần” mà rằng: “ Sao lắm chỗ để “giải oan” thế, nhưng dưới kia là đền và suối còn trên này là chùa. Thôi cứ vào hết để càng được nhẹ lòng”.
Động Tuyết Quỳnh của chủ nhân Nguyễn Văn Bảng cung là điểm du khách hay đến. Nhưng so với những điểm giả “Đền suối giải oan” chùa “Động Sơn Tích Thuỷ”, “Động Phật Tích” … thì Động tuyết quỳnh dường như ít khách hơn bởi vì nó nằm ở quá cao và xa so với trục đường chính. Khi thấy chúng tôi lên, họ đã “tiếp thị” bằng hẳn… loa phóng thanh mời gọi đóng góp để nhà chùa đúc chuông rất khéo léo, rồi họ hướng dẫn tỉ mỉ đến lễ chỗ này chỗ khác và tất nhiên ở mỗi điểm mà họ chỉ dẫn đến lại có một hòm công đức.
Diệp Hiền Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 7(172)2001

Xuất bản bộ sách điện tử Hồ Chí Minh toàn tập

Để đáp ứng nhu cầu của đông đảo người đọc trong việc nghiên cứu, học tập, truyền bá tư tưởng, đạo đức, tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Ban Khoa giáo Trung ương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia cùng với Hội đồng khoa học các ban Đảng với Hội đồng khoa học các ban Đảng đã phối hợp thành lập Ban chỉ đạo và Ban biên soạn, biên tập để xuất bản bộ sách điện tử (CD – ROOM) Hồ Chí Minh toàn tập.
CD – ROOM Hồ Chí Minh toàn tập gồm toàn bộ trước tác của Người với hơn 8.000 trang in do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản lần thứ hai năm 2000. Ngoài ra còn có gần 1.000 bức ảnh, 30 phút phim tư liệu chọn lọc ghi lại cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú của Bác, gần 220 phút âm thanh ghi giọng nói của Bác và của bản nhạc, bài hát về Bác tại các thời điểm lịch sử quan trọng. Trong đó còn có nhiều chức năng tra cứu thuận tiện theo các tiêu chí định sẵn như: chuyên đề, tác phẩm, hình thức văn bản, bút danh, thời gian, địa danh, nhân vật, hình ảnh, âm thanh, phim tư liệu và khả năng tra cứu tự do hoặc cùng một lúc có thể kết hợp nhiều tiêu chí tra cứu… Toàn bộ công trình được hoàn thành trong nước và sản xuất với công nghệ, kỹ thuật hiện đại, phù hợp với việc ứng dụng công nghệ tin học trong các cơ quan và gia đình.
Hội nghị Cục trưởng Hàng không Dân dụng bốn nước tiểu vùng ASEAN
Trong khuôn khổ hợp tác ASEAN, Hội nghị lần thứ 4 các Cục trưởng Hàng Không Dân dụng gồm 4 nước: Việt Nam, Campuchia, Lào và Myanma đã được tổ chức tại Phnom Pênh từ ngày 21 – 25/3/2001.
Hội nghị đã xem xét và đánh giá cao việc thực hiện kế hoạch hành động dài hạn như việc mở sân bay Điện Biên Phủ, Xiêm Riệp, Luông Pabang… cho các chuyến bay quốc tế của các hãng hàng không 4 nước (CLMV), khai thác đường bay xuyên Đông Dương. Hội nghị cũng nhất trí giao cho Việt Nam dự thảo Hiệp định đa biên về vận tải hàng không của tiểu vùng nhằm chuẩn bị điều kiện cho việc tham gia Hiệp định đa biên ASEAN. Tại Hội nghị, Việt Nam đã ghi nhận đề nghị sẽ mở sân bay Phú Bài (Huế) cho các chuyến bay quốc tế CLMV; Lào thông báo quyết định mở sân bay Viên Chăn thành Trung tâm kiểm soát bay đường dài; Myanma chấp nhận vai trò là nước điều phối của Hợp tác vận tải hàng không tiểu vùng từ nay đến Hội nghị lần thứ 5 (2/2002).
Hội nghị cũng nhất trí tìm ra phương pháp và chương trình hoạt động kết hợp chặt chẽ giữa các hãng hàng không dân dụng và các doanh nghiệp du lịch, để thúc đẩy du lịch đi và đến trong tiểu vùng CLMV.
Đảng Bộ khối du lịch Hà Nội “Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng năm 2001”
Ngày 29/3/, Đảng bộ khối Du lịch Hà Nội đã tổng kết công tác tổ chức xây dựng Đảng năm 2000 và bàn phương hướng nhiệm vụ năm 2001.
Đảng bộ gồm 25 cơ sở Đảng ở các đơn vị quản lý và kinh doanh du lịch đóng trên địa bàn. Năm 2000 có 6 cơ sở Đảng đạt tiêu chuẩn trong sạch, vững mạnh xuất sắc, 10 cơ sở đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh, 7 cơ sở đạt loại khá và 2 cơ sở yếu kém. Xếp loại I có 759 đảng viên, loại II có 48 đảng viên và 2 đảng viên xếp loại III; Đảng bộ đã kết thúc kết nạp 49 đảng viên, chuyển chính thức 63 đồng chí.
Trên cơ sở đánh giá, phân tích những tồn tại, Đảng bộ khối Du lịch Hà Nội đã quyết định phương hướng nhiệm vụ chủ yếu năm 2001: Tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng; rà soát, bổ sung và hoàn thiện quy chế làm việc của các cấp ủy, nghiên cứu, chỉ đạo xây dựng và tổ chức triển khai các chương trình công tác của Thành ủy Hà Nội khóa XIII và Ban cán sự Đảng Tổng cục du lịch, tiếp tục rút kinh nghiệm mô hình Đảng bộ khối Du lịch; xây dựng quy hoạch cán bộ, kiện toàn cán bộ chủ chốt ở một số đơn vị; Tăng cường công tác kiểm tra thực hiện Điều lệ Đảng của các Đảng bộ trong khối, đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên mới, xây dựng cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh.
Tại Hội nghị, Đảng bộ khối Du lịch đã trao cờ thi đua khen thưởng cho 6 cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh.
Lào Cai “thêm một công ty 100% vốn nước ngoài”
Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai vừa cấp giấy phép đầu tư cho Trung tâm kinh doanh tổng hợp Chính Thông, Thành phố Duy Thường, tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc) được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại khu vực kinh tế cửa khẩu Lào Cai. Doanh nghiệp có tên gọi là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Chính Thông – Lào Cai, trụ sở và xưởng sản xuất đặt tại phường Duyên Hải, thị xã Lào Cai.
Với tổng số vốn đầu tư 1.000.000 USD, thời hạn hoạt động tại Lào Cai là 50 năm, Công ty Chính Thông có mục tiêu sản xuất, lắp ráp đầu VCD, bếp ga, điều hòa nhiệt độ và kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp. Sản phẩm của Công ty chủ yếu tiêu thụ tại thị trường Việt Nam.
Như vậy, từ khi có quyết định số 100/1998/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ cho phép Lào Cai được áp dụng thí điểm một số chính sách tại khu vực kinh tế cửa khẩu, đến nay đã có 10 doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Lào Cai, trong đó có 3 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Nguyễn Đình Dũng – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT- DL – Hà Nội – Năm 14(179)2001

Hoan Châu đệ nhất danh lam

Hàng năm, vào ngày Diệu Thiện hóa Phật (18 tháng 02 âm lịch) là hội chùa Hương Tích Ngàn Hống (Thiên Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh) lại được tổ chức Hương Tích Tự – Hoang Châu đệ nhất danh lanh danh lam được xây dựng đời Trần, thế kỷ XIII. La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp trong một chuyến thăm cảnh chùa đã viết:
“Hương Tích ngôi chùa đời Trần
Dựng trên ngọn đồi núi đẹp nhất Ngàn Hồng
Am cũ còn lưu lại đá trắng
Nền Trang Vương xưa chỉ những thông xanh”.
Qua nhiều giai đoạn lịch sử biến động, cảnh chùa thay đổi nhiều, nhưng ngày nay vẻ đẹp linh thiên của chùa vẫn cuốn hút người người trẩy hội. Du khách khắp nơi đã không quản mệt nhọc vượt đường núi cheo leo uốn quanh khe đá bặc hiểm trở, dốc núi dựng đứng “níu đá vin cây tới cảnh chùa” (Thơ Nguyễn Nghiễm viết vào thế kỷ XVIII), Hương Tích nghĩa là “chứa mùi thơm” bởi quanh chùa là cảnh mai chen chút, trúc chen thông với muôn loài hoa thơm ngát. Ngọn suối có tên là Hương Tuyền trong vắt cũng ngan ngát hương thơm từ đỉnh núi cao chảy reo như tiếng nhạc. Giữa cảnh trời đất giao hòa ấy là cả một quần thể kiến trúc di tích cổ kính. Đời Gia Long, năm 1811 Lưu Công Đạo viết cuốn sách “Thiên Lộc huyện phong thổ chí” có những đoạn: “… Trên đỉnh núi có bức thành đá, bên thành có 99 cái nền, cái nào cũng ghép bằng đá mài đẽo tròn phẳng gọi là nền Trang Vương… ở trước cửa thành có 2 cây thông đối xứng nhau cao chừng 20 trượng, to đến năm sáu sải tay ôm không xuể, bóng cây che kín một mẫu đất…
Dưới chân thành có tảng đá trắng ngoảnh về hướng đông, hai bên tả hữu vách đá dựng đứng, ở trên có tảng đá che phủ , đứng ngoài nhìn vào thấy như động sâu, có nét uốn lượn như hàm rồng. Người ta lấy gạch đá xây tiếp vào đó thành Am Thánh mẫu. Trong am đặt tượng Quan m, nộm đá tượng trưng cho đồng nam tay cầm chùy đuổi quỉ dữ, một nộm gỗ đồng nữ tay cầm kính chiếu yêu… Bên phải am có chùa Phật, bên phải chùa là dòng nước phun ra từ lòng đá, bên trái chùa có đền thờ Đại Vương Núi Hồng (còn gọi là đến thiên vương), trong đền có tấm biển vua ban chữ thiếp vàng… Theo bậc đá đi lên, mỗi bước lại một cảnh sắc khác nhau, lên cao trông khắp bốn phương đúng là danh thắng đệ nhất ở Châu Hoan ta…”
Sách Hương Sơn bảo quyền kể về sự tích của chùa Hương như sau: “Vua Sở Trang Vương chỉ sinh được 3 người con gái là Diệu n, Diệu Duyên và Diệu Thiện. Khi lớn lên hai hai người chị lấy chồng theo sự sắp đặt của vua cha. Vua muốn gả con gái út cho một quan võ để có chỗ nương tựa lúc về già già yếu. Thấy tên quan là kẻ ác độc, Diệu Thiện không tuân theo nên bị vua cha ruồng rẫy. Uất ức, nàng bỏ cung điện ra chùa ở. Viên quan võ kia được vua sai đi trừng trị nàng, hắn đốt chùa. Nhưng Diệu Thiện và các tăng ni đều được cứu thoát. Phật lại sai Bạch hổ đưa nàng sang nước Việt thường thị. Đến trước một ngọn núi cao, trên núi có hang động và cảnh vật khác nơi trần thế (nay là Ngàn Hống), nàng Diệu Thiện dựng am tu hành và nổi tiếng là vị ni cô từ bi bác ái. Trang vương bị bệnh nặng, thầy thuốc bảo phải có tròng mắt và bàn tay của một người con gái tự nguyện hiến dâng mới chữa khỏi.
Hai cô con gái lớn không ai chịu hy sinh. Nghe tiếng ni cô ở Việt Thường, vua liền sai người sang cầu cứu. Diệu Thiện biết cha mình là kẻ độc ác. Nhưng do độ lượng từ bi, sẵn sàng cứu vớt chúng sinh nàng vui lòng móc mắt, chặt cánh tay mình dâng cho cha Trang Vương khỏi bệnh sai người sang Ngàn Hồng tạ ơn mới biết người cứu mình là Diệu Thiện….
Phật cảm vì tấm lòng của Diệu Thiện, bèn hóa phép cho mắt nàng sáng lại, tay nàng mọc trở lại… Sau khi hóa, nàng Diệu Thiện trở thành Phật Quan Âm…”
Từ truyền thuyết như vậy mà đã cuốn hút nhiều tao nhân mặc khách tới vãn cảnh chùa, ra về nhưng lòng vẫn quyến luyến với cảnh đẹp:
Bỗng nhớ chùa Hương Tích
Khe suối đá gập ghềnh
Dấu Quan m ẩn náu
Am thánh Mẫu tu hành
Biết gì ngoài mây vũ
Muôn thuở tiếng châu Hoan.
(Thái Thuận – Phó Nguyên súy tao đàn)
Thắng cảnh Hương tích còn được các nghệ sĩ chọn khắc lên “Anh Đỉnh” – một trong 9 đỉnh đồng ở nội thành Huế, đúc năm Minh Mạng thứ 17 (1836).
Hội Chùa Hương cứ ba năm mở một lần hội chính, du khách thập phương kéo về tấp nập đứng nhìn từ xa thấy như dòng suối uốn lượn trải dài từ cửa chùa xuống chân núi.
Phan Lê Sỹ – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Dự án Bảo tàng sinh thái Hạ Long

Vừa qua UNDP đã chấp nhận tài trợ 161.500 USD (không hoàn lại) cho dự án xây dựng Bảo tàng sinh thái Hạ Long nhằm mục đích hình thành một cơ sở trưng bày, nghiên cứu khoa học và đề ra các phương pháp bảo tồn phù hợp. Số vốn đối ứng phía Việt Nam phải bỏ ra là 31.000 USD dành cho việc tổ chức, nghiên cứu tính khả thi do nhóm chuyên gia Việt Nam, Australia, Mỹ và Đan Mạch thực hiện. Ngoài chức năng là một trung tâm nghiên cứu khoa học, trong tương lai Bảo tang sinh thái Hạ Long cũng sẽ trở thành một điểm tham quan du lịch hấp dẫn không thể thiếu của thành phố Hạ Long.
Quy hoạch 11 vườn quốc gia
Trong thời gian qua Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn đã tiến hành quy hoạch lại hệ thống rừng đặc dụng quốc gia và trình Chính phủ xem xét phê duyệt gồm 11 vườn quốc gia, 53 khu dự trữ thiên nhiên, 17 khu bảo tồn sinh vật cảnh và 21 khu bảo vệ cảnh quan với tổng diện tích tự nhiên là 2.340.440 ha. Hiện nay mới chỉ có 9 trong số 11 vườn quốc gia đã nằm dưới sự quản lý của cấp Bộ. Ngoài ra công tác quản lý và bảo vệ hệ thống rừng quốc gia, rừng đặc dụng còn chưa hợp lý. Nhiều nơi việc quản lý các khu bảo tồn đucợ giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Nông ngiệp & Phát triển Nông thôn, Sở Khoa học Công nghệ & Môi trường, có nơi lại giao cho kiểm lâm quản lý. Vì vậy Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn đã đề nghị thống nhất đặt các vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên quan trọng dưới sự quản lý của cấp Bộ.
Bia Tiến sĩ Văn Miếu sẽ được trưng bày tại Thành phố Hồ Chí Minh
Căn cứ đề nghị của Sở Văn hóa – Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26/5/2000, Sở Văn hóa – Thông tin Hà Nội đã đề nghị Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội cho phép phục chế một bia Tiến sĩ Văn Miếu – Quốc Tử Giám để trưng bày tại Bảo tang Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh.
Tấm bia này sẽ là phiên bản của một trong số 82 bia ghi danh Tiến sĩ hiện có ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Việc lự chọn và chủ trì phục chế tấm bia trên sẽ được giao cho Trung tâm Hoạt động khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Dự kiến công trình sẽ hoàn thành vào dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội, đồng thời tăng cường giao lưu hợp tác văn hóa giữa hai Sở văn hóa Thông tin và bổ sung những hiện vật có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa của Thăng Long – Hà Nội nhằm phục vụ nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh phía Nam và du khách nước ngoài không có điều kiện ra Hà Nội vào thăm Văn Miếu – Quốc Tử Giám.
Hoàng Hương – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(135)2000.

Cần khuyến khích phát triển võ dân tộc

Ở Huế, mọi người thường trầm trồ khi được xem các pha biểu diễn của một môn phái võ dân tộc đặc biệt là đâm thương vào cổ không thủng, máy cày đi qua người không bị nát, đòn tre chưa đánh trúng mình đã bị vệ khí hất ra ngoài, dùng tay không đập bể gáo dừa, chữa các bệnh nan y rất hiệu nghiệm. Đó là môn võ dân tộc Vạn An. Vạn An phái do võ sư Trương Thăng, sinh năm 1926 ở thôn Tam Tây, xã Thủy An, thành phố Huế sáng lập. Võ sư Trương Thăng là môn đệ chân truyền của cố võ sư Võ Cử, cử nhân võ triều Nguyễn, Nguyễn Thanh Vạn, mất năm 1975, người Duy Xuyên, Quảng Nam. Tên môn phái Vạn An có ý nghĩa tưởng nhớ đến thấy Thanh Vạn và người học trò có tên An sau này là võ sư Trương Thăng sáng lập. Võ sư Trương Thăng bắt đầu dạy võ từ năm 1945. Khởi điểm thầy dạy cho thanh niên trong thôn xóm tham gia du kích chống Pháp và luyện tập trong gia đình. Từ năm 1968 đến năm 1975 phong trào võ nước ngoài như karatek, judo, aikido, taekwondo ào ạt du nhập vào Việt Nam thu hút nhiều thanh niên tham gia. Lòng tự trọng võ cổ truyền dân tộc được khơi dậy, nhiều môn phái võ Việt Nam xuất hiện. Nhưng do trình độ tổ chức yếu kém, thiếu khoa học, thiếu đầu tư phát triển nên võ phái mang tính chất địa phương nhiều hơn, không mang tính chất quốc gia, quốc tế, chưa có hệ thống giảng dạy khoa học như karate, judo, teakwondo… Năm 1972, ý niệm thành lập phái Vạn An, võ cổ truyền Việt Nam mới được hình thành, võ sư Trương Thăng thâu nhận nhiều đệ tử đến học. Võ phục, cấp đai, giáo án giảng dạy bắt đầu được xây dựng để truyền bá cho thanh niên yêu thích võ dân tộc. Sau giải phóng miền nam năm 1975, các môn phái võ cổ truyền vẫn được duy trì phát triển, võ phái Vạn An tích cực tham gia từ địa phương đến toàn quốc. Hiện nay ở Huế có 3 phái võ cổ truyền Việt Nam, ngoài Vạn An phái còn có phái võ sư Ngọc, phái của võ sư Hiền. Võ sư Trương Quang Kim là con của võ sư Trương Thăng, người đứng đầu Vạn An tâm sự: “Vạn An phái cũng như các phái võ cổ truyền Việt Nam, vì quê hương, đất nước muốn tham gia mọi hoạt động xã hội có ý nghĩa chứ không muốn mọi người cho mình như nhóm tự phát. Thế nhưng, từ trước đến nay, các phái võ dân tộc cổ truyền không được tham gia vào các lễ hội như Kỷ niệm Quốc khánh, ngày 26 tháng 3 giải phóng Huế, Festival Huế năm 2000… Võ sư Kim tâm sự tiếp: “Sợ nhất là mai rồi những tinh hoa của võ Việt Nam sẽ thất truyền. Võ mình có kê quyền do Nguyễn Lữ em của Nguyễn Huệ sáng tạo ra, hổ quyền, hầu quyền, xà quyền, tửu quyền đảm bảo không thua gì Vịnh Xuân Quyền, Kungfu, Thiếu lâm tự, Yoga… Võ mình vừa tự vệ chiến đấu, vừa chữa bệnh rất thần diệu, phải có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, đầu tư thích đáng để phát triển”. Tâm sự của võ sư Trương Quang Kim cũng là nỗi niềm của mọi người hiện nay mong sao cho các võ phái dân tộc được truyền bá rộng rãi hơn, nâng lên tầm quốc gia, quốc tế. Muốn thế võ sinh và những người đứng đầu các phái cũng phải tự khẳng định mình, có hiệu quả giảng dạy, và đào tạo mới được Nhà nước ủng hộ, khuyến khích phát triển.
Đỗ Hoàng-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Các loại quần áo được dung trong thế kỷ 21

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, vấn đề “trang phục” phục vụ con người sắp tới cũng có những bước tiến vượt bậc. Sau đây là một số loại quần áo dùng trong thế kỷ XXI do tập chí “Hiện – đại hoá” giới thiệu:
Quần áo bảo vệ sức khỏe con người.
Đây là loại quần áo có thể chông được ô nhiễm bên ngoài tác dụng vào cơ thể. Ngoài nguyên liệu truyền thống, quần áo loại này có thể thêm một số chất như: Si (Silicium), Zn (Zincium), Cu (Cuprum)… những chất này có tác dụng chống bụi và dầu bám vào quần áo, ngoài ra nó còn có tác dụng diệt khuẩn.
Quần áo điều hoà
Là loại quần áo có tính năng giống như một chiếc điều hoà nhiệt độ, khi gặp thời tiết nóng nó sẽ tự động giảm nhiệt độ, khi thời tiết lạnh nó lại tự động tăng cho nhiệt độ bên trong lúc nào cũng ấm áp, dễ chịu.
Các nhà khoa học Mỹ đã dung một loại sợi phản ứng nhiệt tạo ra chúng
Quần áo cứu hộ.
Các nhà khoa học Nhật Bản đã sản xuất ra một loại quần áo chuyên dung cho các nhà đi biển. Lúc khô ráo trông giống như quần áo bình thuờng, nhưng khi gặp nước, sẽ phình to gấp 18 lần ban đầu chỉ trong mấy chụ giây, lúc đó như cái phao cứu hộ.
Ngoài ra các nhà khoa học Nhật Bản, Pháp còn phối hợp nghiên cứu chế tạo ra một loại quần áo chịu lửa, bề ngoài của nó giống như bộ quần áo của các nhà du hành vũ tụ. Khi ở nhiệt độ cao 1.300 độ C, nhiệt độ bên trong của các sợi vải không tăng quá 5 độ C và nó có thể duy trì tình trạng này trong vòng 3 phút.
Quần áo kháng điện.
Đó là loại quần áo chuyên dung cho công nhân ngành điện do các kỹ sư Đức chế tạo. Do loại quần áo này có khả năng phản xạ lại song của sét, chống tích điện, thu hút các song vi ba… nên những người mặc quần áo này sẽ không gặp rắc rối khi tiếp xúc với điện.
Quần áo biến sắc.
Đó là quần áo có thể thay đổi màu sắc theo hoàn cảnh môi trường. Lính bộ binh mặc quần áo này rất tiện lọi trong việc nguỵ trang vì khi đứng dưới cây cối, quần áo biến thành màu xanh của lá cây, khi bò trên thảo nguyên nó thảy đổi màu sắc theo địa hình nơi diễn tập ở đó. Loại quần áo này do các kỹ sư Nhật Bản nghiên cứu, chế tạo.
Quần áo phát sáng.
Để đảm bảo an toàn cho những nhà thám hiểm và những người leo núi, các nhà khoa học Mỹ đã chế tạo ra một loại quần áo phát sáng giống như đom đóm. Trong bất kỳ tình huống nào như mất phương hướng, không liên lạc được với trung tâm… họ vẫn “phát sáng” trong đêm tối để đội cứu hộ có thể tìm thấy và đưa họ về.
Các nhà khoa học Mỹ còn chế tạo ra quần áo phản quang chuyên dùng cho những người lái xe ban đêm, nhằm gíup người lái xe dễ phát hiện ở khoản cách 300m, đảm bảo an toàn khi họ lái xe.
Quần áo không cần giặt.
Loại quần áo này mặc mãi, không cần giặt mà vẫn sạch. Cách làm của các nhà khoa học Nhật Bản là loại bỏ tính năng tích điện trong sợi vải làm cho chúng không có khả năng hút bụi và các chất như dầu mỡ, nước hoa quả… đồng thời vẫn giữ được độ bóng cần thiết cho quần áo.
Quần áo có thể ăn được.
Loại quần áo này được làm từ một sợi vải đặc biệt, bao gồm các nguyên vật liệu như: lòng trắng trứng, nước hoa quả, a xít a min, một hàm lượng nhỏ chất Mg, Fe, Ca… được dùng cho các nhà hành hải sản, thám hiểm, dã ngoại, leo núi. Họ sẽ “ăn quần áo” khi không có gì để ăn và chờ cứu viện.
Trần Sơn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11(176)2001

Thách cưới ngày xuân

Có đôi trai gái yêu nhau được phép làm lễ thành hôn vào dịp tết. Để thực hiện quy ước cưới hỏi văn minh, hai bên nội ngoại đề nghị hai cơ quan đứng ra tổ chức vì chú rể là cán bộ bảo tàng, cô dâu là hướng dẫn viên du lịch.
Đều là cán bộ nhân viên
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.
Để lễ cưới giàu chất văn hóa, đậm đà bản sắc dân tộc nhất là vào dịp đầu xuân, hai họ cùng thống nhất là trong buổi lễ thành thôn, nhà gái sẽ thách cưới bằng câu đối. Đúng ngày cưới, cô dâu chú rể xuất hiện lộng lẫy trong bộ comple áo dài dân tộc khi chào khách và chụp ảnh kỷ niệm. Khi mọi người đã yên vị, ông chủ tịch công đoàn nhà gái đứng lên mở đầu một vế xướng rất thực tế chân tình:
Chẳng phải làng văn, câu đối chỉ cần tương đối đối.
Ông chủ tịch công đoàn nhà trai liền đối đáp lại
Không là nhà báo, vần thơ chưa chỉnh cũng hay hay.
Tiếp theo bà Trưởng ban vận động nếp sống văn minh nhà gái ra về xướng:
Cưới buổi canh tân, cưới đời sống mới. Bà Trưởng ban vận động nếp sống văn minh nhà trai đối lại
Hỏi thời đổi mới, phải hỏi lối canh tân.
Đến lượt bí thư chi đoàn nhà gái đọc vế chúc:
Vui duyên mới em sẽ tài nghiệp vụ. Bí thư chi đoàn nhà trai cũng có vế mừng: Đẹp tân hôn anh càng giỏi chuyên môn. Có một đề tài quan trọng cho mỗi cặp vợ chồng mới cưới nhưng chưa ai đề cập, bà Trưởng ban kế hoạch hóa gia đình nhà gái liền xướng: Xã hội văn minh, đẻ gái hay trai đều quý mến. Bà Trưởng ban kế hoạch hóa gia đình nhà trai đâu chịu kém: Gia đình hạnh phúc sinh hai hay một mới là vừa. Thật tuyệt vời chẳng ai bảo ai mà người xướng cũng như người đối đều giữ đúng vai vế để chứng tỏ sự hiểu biết của mình trước hai họ. Một sự bẽn lẽn đáng yêu, cô dâu xin phép ra một vế xướng: Xã hội yên vui bởi lứa đôi chung thủy. Khác với phái đẹp, chú rể đĩnh đạc đứng lên đối lại: Gia đình êm ấm vì chồng vợ yêu thương nhau. Không khí thật tươi vui phấn khởi, câu đối tuy chưa chọi nhau chan chát nhưng rất là dân giã, phong phú lại phù hợp với buổi lễ thành hôn, một nhà thơ có mặt liền ứng khẩu:
Chồng công tác viện bảo tàng
Vợ hướng dẫn khách thật càng thêm duyên
Hai câu thơ được mọi người nhiệt liệt tán đồng, Ban tổ chức cũng kết thúc buổi lễ. Ra về ai cũng ca ngợi một đám cưới văn minh, trang trọng đậm nét nhân văn phù hợp với thời kỳ đổi mới.
Chuyện cười trong nhà hàng
Trời ơi, này anh bồi, tôi lượm được 1 cây đinh trong đĩa súp.
Thế ông, tưởng ông sẽ lượm được bông tai chắc?
Các anh có thường thay khăn bàn không?
Thưa ông, tôi không biết, tôi mới vào làm có hơn tháng.
Này anh bồi, tôi nhặt được chiếc bật lửa này trong đĩa súp.
Ồ cảm ơn ông! Thế mà người ta cứ nói là trên đời này không còn người thật thà…
Sống
Tôi muốn thời gian ngưng đọng lại
Chẳng kim giờ kim phút kim giây
Tôi muốn tóc trên đầu xanh mãi
Chẳng có bóng đêm buổi ban ngày
Tôi muốn lịch trên tường không bóc
Những cuộc vui mãi mãi còn đây
Tôi muốn không bao giờ biết khóc
Trái đất thân yêu hãy ngừng quay
Tôi rất biết đó là điều hoang tưởng
Chỉ những người điên ước mà thôi
Nhưng tôi chẳng làm sao cưỡng được
Những mộng mơ huyễn hoặc của con người
Tôi cũng biết nếu đồng hồ dừng lại
Trái đất ngừng quay nghĩa là chẳng còn gì
Sự sống có đâu mà tồn tại
Mọi vui buồn không biết cả đam mê
Nếu như vậy thì ôi, kinh khủng quá
Xin thời gian cứ tuần tự bước đều
Tóc trên đầu hết xanh thì trắng xóa
Cho con người biết sống để mà yêu.
Anh Khoa -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Tổng quan về chương trình hành động quốc gia Du lịch – Phần 2

Chất lượng dịch vụ lữ hành, khách sạn được coi trọng, thông qua chủ trương bình chọn và công nhận 10 hãng lữ hành, 10 khách sạn hàng đầu của Việt Nam hàng năm, thông qua cuộc thi có tính chuyên nghiệp toàn quốc lần đầu tiên của 2 lực lượng chủ yếu là hướng dẫn viên và lễ tân khách sạn. Các cuộc tiếp xúc, các hiệp định hợp tác, các diễn đàn du lịch quốc tế, đã được tập trung vào nội dung khai thác, tìm tòi kinh nghiệm xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù, nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ đáp ứng nhu cầu riêng của từng thị trường, từng phân đoạn thị trường. Chiến lược đào tạo nguồn nhân lực được xây dựng và triển khai, năng lực và hiệu lực quản lý nhà nước về Du lịch được tăng cường từng bước. Đã tiến hành điều tra, thống kê, phân tích đánh giá nguồn nhân lực du lịch toàn ngành. Dự án đào tạo do Luxemburg và EU tài trợ đã tạo điều kiện nâng cấp các trường trung học nghiệp vụ Du lịch sẵn có và thành lập mới trường Trung học nghiệp vụ Du lịch Huế. Nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ tại chức, lớp bên cạnh doanh nghiệp được mở. Các khoa du lịch của các trường đại học quốc gia đào tạo ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng cao đáp ứng nhu cầu của ngành Du lịch. Quan trọng hơn là đã chú trọng đào tạo trong sử dụng. Sử dụng đúng cũng là đào tạo. Lực lượng cán bộ trong ngành, từ cơ sở, đã trưởng thành nhiều trong quá trình triển khai các chương trình hành động thực tế. Tổ chức của ngành từ Tổng cục đến các Sở từng bước được kiện toàn theo hướng gọn và tinh, thực hiện cải cách hành chính, tính giản biên chế, nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý. Kinh nghiệm trong 40 năm xây dựng ngành được tích lũy, kế thừa và phát huy cao trong giai đoạn mới. Công tác Thanh Tra, Thi đua Pháp chế Du lịch được tăng cường nhằm phát huy nhân tố mới, hướng vào chất lượng hiệu quả, vì triển khai thắng lợi Chương trình hành động quốc gia, triển khai Pháp lệnh du lịch, xây dựng các nghị định, chỉ thị, nghị quyết về Du lịch. Ba nội dung quan trọng, chuyên ngành trên được nhân lên gấp bội nhờ chính sách vĩ mô tập trung phát triển du lịch của Đảng, nhà nước, mối quan hệ gắn bó, hợp tác, hỗ trợ chặt chẽ, hiệu quả của các ngành các cấp. Thủ tướng Chính phủ đã quyết định áp dụng chế độ miễn thị thực cho công dân Thái Lan, Philippines vào Việt Nam trong vòng 30 ngày. Pháp lệnh xuất nhập cảnh đã cho phép khách du lịch đi theo đoàn có thể lấy thị thực tại cửa khẩu, xuất nhập cảnh qua bất cứ cửa khẩu quốc tế nào của Việt Nam, khách quá cảnh có thể vào du lịch không visa trong vòng 72 tiếng. Lệ phí visa khách tàu biển đã giảm xuống là 10 đô la Mỹ. Chính sách 1 giá đối với khách du lịch quốc tế và trong nước đã và đang được áp dụng. Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch đầu tư đã có nhiều chính sách, tháo gỡ khó khăn, và trực tiếp giúp giải quyết kinh phí và giải ngân cho Chương trình hành động quốc gia về Du lịch. Hàng không Việt Nam đã mở lại, mở thêm nhiều đường bay mới từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Tokyo, Xiêm Riệp, Sê – un, từ Đà Nẵng đến Băng Cốc của Thái Lan, Hồng Kông… Cơ sở hạ tầng, đường bộ, đường sắt, đường biển được nâng cấp, phát triển, nối liền các điểm tham quan du lịch. Các Bộ, ngành ngoại giao, Công an, quốc phòng, Hải quan, Thương mại, giao thông vận tải, văn hóa – thông tin, Bưu chính viễn thông, Thanh tra, Tư pháp, các cơ quan thông tin báo chí Trung ương và địa phương… cùng quan tâm giúp đỡ, phối hợp, hỗ trợ tạo nên sức mạnh tổng hợp triển khai thành công Chương trình hành động quốc gia về Du lịch. Còn nhiều việc phải làm, nhiều khó khăn phải vượt, nhiều vướng mắc phải tháo gỡ. Chương trình hành động quốc gia về Du lịch với mục tiêu “Điểm đến của thiên niên kỷ mới” chỉ mới đi những bước ban đầu. Thiên niên kỷ mới đã đến. Hành trang đã chuẩn bị khá kỹ càng. Chương trình hành động quốc gia về Du lịch đang được sơ kết, bổ sung, hoàn chỉnh để đệ trình lên Thủ tướng Chính phủ cho phép triển khai tiếp trong năm 2001 và những năm sau. Tiếp tục triển khai thắng lợi Chương trình hành động quốc gia về Du lịch là trọng tâm của toàn ngành nhằm đưa Du lịch phát triển, đạt được những mục tiêu chiến lược, đưa Việt Nam trở thành trung tâm du lịch có tầm cỡ, sớm đứng vào hàng các nước có ngành công nghiệp Du lịch phát triển trong khu vực.
PV – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Tổng quan về chương trình hành động quốc gia Du lịch – Phần 1

(Tiến sĩ Phạm Từ – phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch)
Chương trình hành động quốc gia về Du lịch được xây dựng từ năm 1998, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và bắt đầu triển khai từ tháng 4 năm 1999, triển khai một cách tập trung trong năm 2000. Cả 6 dự án trong chương trình đều được tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả. Mục tiêu đề ra ban đầu đã thành hiện thực chặn đà giảm sút do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực vào năm 1998, đưa du lịch phát triển với tốc độ cao, ngay trong khi các ngành kinh tế khác còn bị chững lại. Năm 1999, khách du lịch quốc tế tăng 17,8%, khách trong nước tăng 6%. Năm 2000, tăng tiếp 20% và 6% trên cả hai chỉ tiêu tương ứng. Người khách quốc tế thứ 2 triệu đã đến Việt Nam sớm hơn dự kiến. Và như vậy đến hết năm 2000, khách quốc tế đến Việt Nam là trên 2,1 triệu, tăng nửa triệu trong vòng 2 năm. Du lịch trở thành một trong không nhiều ngành có tốc độ tăng trưởng cao, có giá trị xuất khẩu tại chỗ, tính từ tổng thu nhập xã hội do du lịch mang lại trên 1 tỷ đô la Mỹ. Điều quan trọng không chỉ là những chỉ tiêu ban đầu đã đạt được, mà là khẳng định tính đúng đắn của một chủ trương, một hướng đi, cách làm và những bài học kinh nghiệm đã tích lũy được, hứa hẹn một chiều hướng, một tốc độ và quy mô phát triển mới trong thời gian tới. Kết luận quan trọng của Bộ chính trị “Phát triển Du lịch trong tình hình mới” đã đi vào cuộc sống và trở thành hiện thực sinh động. Pháp lệnh Du lịch đã từng bước được triển khai. Ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch đã hoạt động có hiệu quả. 32 tỉnh, thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo Du lịch. 14 Bộ, ngành đã triển khai kế hoạch thực hiện Chương trình hành động quốc gia về Du lịch. Quan hệ liên ngành trong lĩnh vực du lịch đã gắn bó. Sức mạnh của đội ngũ cán bộ, nhân viên trong toàn ngành đã được tập hợp, phát huy theo một chương trình hành động thống nhất. Bốn nội dung nổi bật, có tính quyết định Chương trình hành động quốc gia, có thể khái quát là:
Chương trình quảng bá xúc tiến du lịch được triển khai tập trung, rầm rộ, cả trong và ngoài nước. Các doanh nghiệp, các Sở Du lịch, Thương mại – Du lịch có nhiều hình thức chủ động sáng tạo để tuyên truyền quảng bá trong phạm vi của mình và tham gia tích cực với Tổng cục Du lịch để quảng cá chung toàn ngành. Các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương và các địa phương tập trung tuyên truyền cho Du lịch. Các chương trình xúc tiến, mở thị trường được triển khai theo kế hoạch, có trọng điểm, tập hợp được sức mạnh, các doanh nghiệp, các địa bàn, phối hợp chặt chẽ giữa Du lịch và Hàng không trong ngôi nhà chung, dưới tiêu đề “Việt Nam – điểm đến của thiên niên kỷ mới”. Hàng loạt ấn phẩm quảng bá đã được sản xuất và phân phát, phù hợp với nhu cầu thị trường bằng các thứ tiếng riêng cho từng nước. Các thị trường đã phát động có hiệu quả và sẽ tiếp tục tập trung xúc tiến là Nhật và Bắc Á, Pháp, Anh, Đức và Tây u, Mỹ và các nước châu Mỹ, Trung Quốc và các lãnh thổ nói tiếng Trung, Úc và các nước Đông Nam Á.
Sản phẩm và chất lượng sản phẩm đã được coi trọng và tập trung đầu tư khai thác đúng hướng. Hai mươi lễ hội đại diện cho các vùng miền đã được toorc hức khai thác, tạo nên một ấn tượng riêng của sản phẩm Du lịch Việt Nam – Du lịch Lễ hội, chạy dài các tháng trong năm, trải rộng trên không gian cả nước. 21 điểm du lịch được khảo sát, có kế hoạch nâng cấp. Hàng loạt công trình mới, khu vui chơi giải trí được xây dựng, chỉnh trang, đưa vào hoạt động, bằng nguồn vốn ngân sách địa phương, vốn liên doanh liên kết từ các thành phần kinh tế và có sự tham gia chủ động tích cực của các Sở Du lịch, Sở Thương mại Du lịch, các đơn vị Du lịch trên địa bàn. Nhiều tour, tuyến mới, loại hình du lịch mới được khảo sát và đưa ra thị trường.
PV – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.