Trùng tu hay…?

Hà Nội hiện có hơn 2000 di tích như đền, chùa, miếu, lăng tẩm… thì có hơn 1300 di tích đang bị xuống cấp nghiêm trọng bởi chiến tranh hoặc thời gian tàn phá. Do nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân và nhu cầu thăm quan của khách thập phương, những di tích này đang từng bước được trùng tu lại.
Tuy nhiên, không phải sự trùng tu nào cũng đảm bảo được giá trị văn hóa, lịch sử và kiến trúc nguyên bản của di tích. Sự quan tâm của các cơ quan bảo tồn, bảo tàng còn quá ít nên không thể giải quyết được tình trạng xuống cấp của hàng loạt di tích, vì thế ở một số di tích, dân đã tự cung tiến để nhà chùa tự thiết kế trùng tu, tôn tạo theo một lối kiến trúc lai căng, không phù hợp với kiến trúc đền, chùa vốn có: một số chùa xây dựng tam bảo hai tầng hoặc xử lý không đồng bộ các khâu như nền, móng, thoát nước, chống mối mọt… Việc sửa chữa các kiến trúc thay thế vật liệu, kiểu cách, màu sắc cấu kiện, hiện vật cũng hết sức tùy tiện, thậm chí còn cấy thêm một số bộ phận không phù hợp như: cổng, hàng rào sắt, lát gạch men hoa (chùa Tân Triều-Triều Khúc-Thanh Trì), hay xây thêm bệ thờ, đắp vẽ tranh tượng, tô màu lòe loẹt… ở một số di tích, người ta còn thay thế hẳn kiến trúc cổ truyền – di tích đã được xếp hạng, bằng một công trình mới, kiến trúc không ăn nhập chút nào với vật liệu hoàn toàn hiện đại như đổ bê tông cốt thép hoặc đưa thêm các công trình phụ trợ vào tháp, nhà thờ ở những vị trí không phù hợp với cảnh quan và quy hoạch chung.
Hậu quả là các di tích mất đi giá trị văn hóa – lịch sử, kiến trúc trường tồn của nó. Tìm hiểu về nguyên nhân của tình trạng trên, chúng tôi được ông Trần Hưng Hoài – Chuyên viên phòng Văn hóa Thông tin, kiêm Trưởng ban bảo tồn, bảo tàng huyện Thanh Trì cho biết: “Khi trình đơn tu sửa lại chùa lên cấp lãnh đạo, nhà chùa và nhân dân chỉ xin cho phép đảo lại ngói, sửa chữa những chỗ hỏng hóc quá nặng, xây dựng thêm một gian bếp. Nhưng khi xây dựng thì lại sai hoàn toàn so với đơn trình ban đầu”. Còn Hòa thượng Thích Thanh Chỉ – Trụ trì chùa Tân Triều (Triều Khúc) lại cho rằng: “Gạch lát nền là do dân cung tiến, mà dân đã cung tiến nhà chùa phải sử dụng. Vả lại, các cụ cũng muốn nền chùa thật sạch sẽ để còn ngồi cầu kinh niệm Phật”.
Điều này chứng tỏ sự quản lý từ cấp lãnh đạo đến cơ sở còn chưa chặt chẽ, để đến khi việc vi phạm bảo tồn, bảo tàng những giá trị di tích xảy ra thì mới hay. Việc tu bổ tùy tiện cũng cho thấy, nhận thức của nhân dân về gìn giữ giá trị tinh hoa của văn hóa dân tộc còn rất hạn chế. Đáng ra, các vị trụ trì đền, chùa phải thuyết phục nhân dân bảo vệ giá trị truyền thống khi tu bổ di tích thì lại nghe theo dân, dẫn đến việc chốn linh thiêng – văn hóa – lịch sử trở thành nơi có kiến trúc tạp nham không thể chấp nhận.
Có thể nói, Hà Nội là nơi hội tụ lượng di tích lớn nhất cả nước. Vì vậy, khách đến tham quan Hà Nội là chủ yếu thăm quan các di tích. Vậy mà hầu như những di tích được trùng tu đang mất dần giá trị vốn có khiến khách du lịch không còn cảm nhận được giá trị truyền thống, văn hóa lịch sử của di tích. Với việc bảo tồn không theo quy định ở các di tích như hiện nay, liệu Hà Nội có giữ được truyền thống nghìn năm văn hiến cho thế hệ mai sau?.
Chiếc ví và lòng tin
Đêm cuối năm lạnh giá. Tôi đang định vùi mình trong chăn ấm để xả hơi sau một ngày rong ruổi cùng khách, bỗng chuông điện thoại réo vang. Vừa cầm máy, tôi đã nghe thấy từ đầu dây bên kia giọng nói gấp gáp của một người nước ngoài:
Hương! Hương phải không? Chiếc ví xách tay của tôi biến mất từ lúc nào không biết. Ôi thật khủng khiếp, trong đó có vé chuyến bay chiều mai, thẻ tín dụng, tiền và các giấy tờ khác. Tôi phải làm gì bây giờ? Hãy giúp tôi với nhanh lên…
Thì ra là Dana, một phụ nữ quốc tịch Mỹ trong đoàn khách du lịch mà hai ngày qua tôi đang làm hướng dẫn viên. Để cho Dana bình tĩnh trở lại, tôi hỏi thăm rành rọt và được biết, ngay khi kết thúc bữa ăn tối ở nhà hàng bên hồ Hoàn Kiếm, cả đoàn lên xe về khách sạn. Vào phòng một lúc, chị sực nhớ và nhận ra rằng chiếc ví không còn ở bên mình. Dana hoảng hốt thực sự và tìm tới tôi, chỗ dựa duy nhất của chị lúc này. Tôi động viên Dana, hứa sẵn sàng giúp chị và khẳng định rằng, nếu chị để quên trên xe hay tại nhà hàng thì chắc chắn không thể mất được. Thú thật, tôi cũng lo cho chị, vì làm sao biết được chiếc ví thất lạc ở đâu, lúc nào…
Sau ít phút liên lạc, lái xe khẳng định chắc chắn với tôi rằng trên xe không hề có chiếc ví nào. Tôi lập tức đến ngay nhà hàng, nơi cả đoàn ăn tối. Phòng ăn đã tắt đèn, người giữ chìa khóa đã về nghỉ. Được phép của bác bảo vệ, tôi dùng đèn pin soi qua cửa, căng mắt dò tìm xung quanh bàn nơi Dana đã ngồi ăn tối: “Đây rồi!”, tôi mừng rỡ reo toáng lên. Chiếc ví màu đen nằm ngay dưới chân bàn. Để cho Dana yên tâm, tôi liền gọi điện báo tin cho chị biết và đề nghị bác bảo vệ ghi nhận vào sổ trực. Xong việc cũng đã quá nửa đêm, niềm vui vì đã giải thoát cho Dana khỏi nỗi lo lắng khiến tôi thanh thản, quên hết mọi mệt mỏi.
Sáng sớm hôm sau, qua một số thủ tục đơn giản, Dana sung sướng nhận lại chiếc ví cùng tài sản quý của mình. Chị ôm chầm lấy tôi, giọng nghẹn ngào:
Cảm ơn, cảm ơn nhiều lắm! cả đêm qua sẽ rất khủng khiếp đối với tôi nếu không có bạn…
Thấy Dana hạnh phúc, trong tôi tràn ngập niềm vui và chỉ muốn nói với chị rằng, đó là công việc rất bình thường của hướng dẫn viên chúng tôi.
Thăng Long – Phương Thúy – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 42(207)2001

Cần làm trắng đĩa hình đen

Vài năm gần đây, bằng hình dần dần bị đĩa thay thế. Ưu thế đĩa hình so với băng hình: gọn nhẹ, hình ảnh, âm thanh tốt hơn băng rất nhiều. Bên cạnh đĩa hình nội dung lành mạnh, thì có vài văn hóa thì có nội dung “đen”không hiếm. Cửa hàng cho thuê, bán đĩa hình mọc lên như nắm. Dạo quanh đường chùa Bộc, La Thành, khu Bách Khoa, Thanh Xuân… thấy nhan nhản hàng cho thuê, bán đĩa hình. Riêng khu Thanh Xuân Bắc có ít nhất khoảng 20 cửa hàng. Tùy số vốn lớn nhỏ mà cửa hàng có số lượng đĩa ít hay nhiều, có khi lên tới hàng ngàn. Khi chúng tôi vào cửa hàng trên đường Bê Tông Thanh Xuân Bắc, chủ cửa hàng bê ra một chồng list đĩa hình VCD, DVD. Liếc qua chồng list chúng tôi thấy đủ loại đĩa với đủ nội dung khác nhau, từ bạo lực kinh dị đến tâm lý hầu hết là của Mỹ và Hồng Kông. Phim tâm lý hầu hết là câu khách bằng những hình ảnh khêu gợi, hở hang hay đi kèm những cái tên khi nghe thấy cũng đã giật mình: “Lửa dục đam mê”, “Tình điên dại”, “Tình không biên giới”, “Kim Bình Mai”… nội dung phim tâm lý rất nhàm chán nhưng hình ảnh rất “nóng”, cảm tưởng là loạn phim sex trá hình. Tại cửa hàng ở đường La Thành, trong vai những người đi mua đĩa phim, thấy chúng tôi chê đĩa phim tâm lý tại đây xem không đã, thì chủ của hàng bậc mí. Nếu anh cần xem phim nặng đô hơn, mai anh lại đây em để cho. Theo anh ta báo giá thì: 16 nghìn 1 đĩa đơn, 30 nghìn cho một cặp loại phim mà anh ta gọi là nặng đô kia. Số lượng không hạn chế. Cảnh chem. Giết, bạo lực đầy rẫy trong những đĩa “Ma Sói”, “Ma cà Rồng”, “Quỹ đầu ngô”, “Máu kẻ thù”, “Vùng đất chết”…. giá thuê một đĩa hình dao động từ 2.500 đồng đến 3.000 đồng/ ngày đêm, người không quen phải đặt cọc đủ để làm tin. Hầu hết các cửa hàng cho thuê đĩa hình tại Hà Nội đều có sẵn phim tâm lý, kinh dị, bạo lực và không ít hàng cho thuê phim sex. Tuy chưa công khai như chợ đen thường là đĩa lậu, được in lậu hoặc nhập lậu. Đãi hình được in sang tại Việt Nam hoặc nhập lậu qua biên giới chủ yếu qua đường tiểu ngạch. Đĩa nhập về được bắn chữ phụ đề tiếng Việt hoặc lồng tiếng rồi tung ra thị trường.
Đời sống vật chất người dân ngày một cao, việc mua một chiếc đĩa đầu dàn máy tính không phải là một điều khó khăn. Đĩa hình đen càng có điều kiện xâm nhập len lỏi vào từng hộ gia đình. Khách hàng của các cửa hàng phần lớn là thanh thiếu niên, sinh viên học sinh, tầng lớp dễ bị kích động, tiêm nhiễm thói hư tật xấu. Nội dung thiếu lành mạnh của đĩa hình đen gây ảnh hưởng không nhỏ đến cộng đồng xã hội. Vì thế, đòi hỏi những nhà quản lý phải có những biện pháp triển để hơn nữa. Tổ chức kiểm tra thường xuyên giấy phép kinh doanh, nguồn gốc, nội dung đĩa để loại trừ đĩa hình đen, và có hình thức xử lý nghiêm túc, kiên quyết với các vi phạm. Trách nhiệm, vai trò lớn nhất thuộc về Bộ Văn hóa – Thông tin, không thể để tình trạng bùng phát tự do như hiện nay.
Triển lãm tranh “Tôi vẽ văn nghệ sĩ” của nhạc sĩ họa sĩ Nguyễn Đình Phúc.
UBND thành phố Hà Nội và Sở Văn hóa – Thông tin vừa tổ chức phòng tranh của nghệ sĩ, họa sĩ Nguyễn Đình Phúc.
Sâu 55 cống hiến cho sự nghiệp âm nhạc, ngoài các tác phẩm nổi tiếng như Lời ru tử, Tiếng đàn bầu, Cô lái đò… Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc còn vẽ tranh chân dung các nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ, biên đạo múa, biên kịch. Triển lãm trưng bày 122 nhức chân dung và 15 bức phong cảnh bằng chất liệu sơn dầu và giấy dó. Triển lãm diễn ra ngày 8/5 đến 19/5 tại 93 phố Đinh Tiên Hoàng, Hà Nội.
Tại sao ở Hà Nội có nhiều cô gái đẹp mà anh lại chọn đề tài phụ nữ vùng cao?
Tôi thích sống ở nông thôn, không khí yên tĩnh và trong lành nên ảnh của tôi chuyên về vùng quê. Đặc biệt, trong các thể loại , tôi thích chụp ảnh chân dung. Phụ nữ thiểu số Việt Nam có bản sắc văn hóa rất riêng: màu sắc, kiểu may mặc trang phục phong phú. Điều đó đã hấp dẫn tôi cũng như nhiều du khách phương Tây.
Chúc các anh chị có thêm bộ ảnh sưu tập mới.
Nguyễn Văn Hải – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 20 (185) 2001

Vẽ tranh tập thể tại 10 thành phố

Theo CLB UNESCO Văn hóa gia đình thuộc hiệp hội UNESCO Việt Nam cho biết, để hưởng ứng “Năm quốc tế đối thoại giữa các nền văn minh” của Liên Hợp quốc và dự án “Ngày quốc tế trẻ em hôm nay” do Hiệp hội Câu lạc bộ và trung tâm UNESCO Ba Lan phát động, cùng với 9 thành phố khác trên thế giới là Iserlohn (Đức), Bucarest (Rumani), Kathmandu (Nêpan), Krakow (Ba Lan), Manila (Philipine), Minsk (Bêlarut), Ticino (Thụy Sĩ) Sydney (Úc) và Ekaterinburg (Nga), Hà Nội sẽ tham gia cuộc vẽ tranh tập thể với chủ đề “Hành tinh của chúng ta- Ngôi nhà cho tất cả mọi người”.
Tại Hà Nội, theo dự kiến của Ban tổ chức, cuộc vẽ tranh của ban tổ chức vào ngày 1 -7 tới tại Văn Miếu Quốc Tự Giám, với sự tham gia của nhiều học sinh, tham gia và cha mẹ của các em. Được biết, các tấm vải được vẽ tranh có kích thước từ 30m x 1,6m sẽ được chuyển từ thành phố Krakmnow tới các thành phố tham gia. Sau khi vẽ xong, chúng ta lại được đưa trở lại thành phố Krakow để triển lãm trên mạng Internet toàn cầu và chấm giải.
Vẫn chưa có quy chế tạm nhập, tái xuất phương tiện của khách du lịch.
Tổng cục du lịch vừa tiếp tục đề nghị Thủ tướng chính phủ chỉ đạo các ngành liên quan sớm ban hành quy chế về tạm nhập, tái xuất phương tiện vận chuyển đặc biệt là ô tô tay lái nghịch của khách du lịch mang vào Việt Nam. Hiện nay, nhu cầu đi du lịch bằng phương tiện cá nhân hoặc của doanh nghiệp của các nước láng giềng sang – Việt Nam ngày càng tăng trong 10 nước ASEAN lại sử dụng ô tô tay lái nghịch. Để khai thác tốt hơn nguồn khách này, Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm đã chỉ đạo: Bộ công an cần sớm hoàn chỉnh đề án quy chế trên, Chính phủ sẽ giải quyết dứt điểm theo nguyên tắc cho phép vào, bảo đảm an toàn giao thông.
Không biết vì lý do gì, từ năm 1999 đến nay ngành công an vẫn chưa xây dựng xong quy chế.
Quảng Nam:Họp báo quốc tế giới thiệu tiềm năng đầu tư phát triển kinh tế văn hóa du lịch.
Tại Hội An, UBND tỉnh Quảng Nam vừa tổ chức hợp báo quốc tế giới thiệu tiềm năng đầu tư, phát triển kinh tế văn hóa du lịch của tỉnh. Nhiều vị Đại sứ, Tham tán, Tổng lãnh sự ngoài cùng các hãng thông tấn, báo chí quốc tế như ÀP (Pháp), Reuter (Anh), Kinh tế Nhật báo Trung Quốc, Nhật Bản… và một số báo, đài trung ương và địa phương tham dự. Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, chủ tịch UBSN tỉnh Quảng Nam, đã giới thiệu tóm tắt những tiềm năng của Quảng Nam trên các lĩnh vực công nghiệp, du lịch vận tải… đặc biệt là những chính sách ưu đãi của tỉnh trong việc thu hút đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp, khu kinh tế mở Chu Lai. Với hai di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn và Hội An, Quảng Nam đã xác định phát triển du lịch là điểm mũi nhọn của tỉnh (Tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch Quảng Nam bình quân trên 20%/ năm, 6 tháng đầu năm 2001 lượng khách đến Quảng Nam tăng 62% so với cùng kỳ). Ông Vũ Ngọc Hoàng cũng được trả lời nhiều câu hỏi của nhà báo về cơ hội đầu tư, cơ chế chính sách, những loại hình doanh nghiệp được khuyến khích đầu tư, quyền lợi của nhà đầu tư tại Quảng Nam…
Kỳ họp thứ 9, quốc hội khoá X: Ông Nguyễn Văn An được bầu làm chủ tịch quốc hội.
Sáng 27/06/2001, các Đại biểu Quốc hội đã tiến hành bầu chủ tịch Quốc hội và phê chuẩn một số chức danh Bộ trưởng do chính phủ đề xuất. Kết quả: Ông Nguyễn Văn An, 64 tuổi, Ủy viên Bộ chính trị, nguyên trưởng ban tổ chức Trung ương Đảng đã trúng cử chức chủ tịch Quốc Hội khóa X. Quốc hội cũng đã thông qua tờ trình danh sách Hội đồng Quốc Phòng và An Ninh di chủ tịch nước Trần Đức Lương đọc, theo đó, ông Nguyên Văn An thay ông Nông Đức Mạnh làm Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An Ninh.
Tiếp đó, ông Phan Quang Nghị, Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư tỉnh ủy Hà Nam cũng đã được quốc hội bỏ phiếu phê chuẩn vào chức danh Bộ trưởng bộ văn hóa – Thông tin thay ông Nguyên Khoa Điềm nhận nhiệm vụ mới. Quốc hội cũng thống nhất với chính phủ trong việc bổ nhiệm ông Nguyễn Danh Thái, nguyên Phó chủ nhiệm UBTDTT làm bộ trưởng – Chủ nhiệm UBTDTT thay ông Hà Quang Dự.
Hội thảo về du lịch miền Trung
Tổng cục Du lịch cùng Ủy ban nhân tỉnh Khánh Hòa vừa tổ chức Hội thảo “Du lịch miền Trung – thực trạng và giải pháp” tại thành phố Nha Trang. Hội thảo tập trung thảo luận, phân tích nhiều vấn đề nhằm tìm ra giải pháp để du lịch miền Trung có thể phát triển bền vững. Trước mắt, cần sớm hoàn chỉnh quy hoạch các khu du lịch tỉnh, vùng và quản lý quy hoặc, đồng thời hoàn chỉnh đầu tư cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật du lịch.
Hội thảo khoa học “Trần Nhân Tông và di sản văn hóa Yên Tử”.
Tại Quảng Ninh, Hiệp hội Câu lạc bộ UNESCO Việt Nam và sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Quảng Ninh vừa phối hợp với tổ chức hội thảo khoa học “Trần Nhân Tông và di sản văn hóa Yên Tử”. Các đại biểu tham dự hội thảo đã tập trung thảo luận một số nội dung chính gồm: xác định rõ hơn về vai trò sáng lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử; khẳng định giá trị vật thể và phi vật thể của Di sản văn hóa Yên Tử. Sau hội thảo, hồ sơ khoa học về Yên Tử sẽ được lập, đề nghị chính phủ trình UNESCO công nhận Yên Tử là di sản văn hóa thế giới.
Xuân Bảo – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 26 (191) 2001

Các hội nghị quan trọng của ASEAN sắp diễn ra tại Hà Nội

Từ ngày 23 đến ngày 28/7/2001, tại Hà Nội sẽ diễn ra 5 hội nghị quan trọng của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), gồm: Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 34 vào các ngày 23 và 24/7; Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc vào ngày 24/7; Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Diễn đàn khu vực ASEAN lần thứ 8 vào ngày 25/7; Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao giữa ASEAN với 10 nước đối thoại là Úc, Ca-na-đa, Trung Quốc, EU, Ấn Độ, Nhật Bản, Niu-di-lân, Liên bang Nga, Hàn Quốc, Mỹ và với từng nước đối thoại vào các ngày 26 và 27/7; Hội nghị Bộ trưởng Hợp tác sông Mêkông – sông Hằng lần thứ 2 vào ngày 28/7.
Các cuộc họp như thế này vẫn được tổ chức định kỳ hàng năm, nhằm trao đổi đánh giá tình hình chính trị, kinh tế, an ninh trong khu vực và trên thế giới, kiểm điểm việc thực hiện các thỏa thuận đã thông qua tại các cuộc họp năm trước, đương thời đề ra các công việc cần tiến hành trong thời gian tới.
Dự án khu du lịch Dung Quất
Ban quản lý khu công nghiệp Dung Quốc tỉnh Quảng Ngãi vừa cấp giấy phép dự án đầu tư xây dựng khu du lịch – dịch vụ tại bình Chánh – Dung Quốc cho doanh nghiệp tư nhân Quang Châu (TP Hồ Chí Minh). Dự án được triển khai xây dựng trên diện tích 5 ha, tổng vốn đầu tư trên 18 tỷ đồng, bao gồm các hạng mục công trình: Khu đồi hồ cảnh, khu biệt thự, bể bơi, sân tennis, nhà hàng… Hiện nay, dự án đang được triển khai giải phóng mặt bằng, dự kiến hoàn thành vào tháng 2/2002 nhằm đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, sinh hoạt, vui chơi, giải trí cho các nhà đầu tư, chuyên gia, công nhân trong khu công nghiệp Dung Quốc và khách du lịch đến Quảng ngãi.
Uống rượu say trong khách sạn bị phạt đến 500 ngàn đồng
Nghị định số 31/2001 của Chính phủ vừa ban hành “ Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa – thông tin” quy định: hành vi say rượu ở khách sạn, công sở, vũ trường, trên phương tiện giao thông; hành nghề mê tín, lợi dụng tín ngưỡng để quyên góp tiền… bị phạt tiền từ 100 đến 500 ngàn đồng. Đối với lĩnh vực báo chí, người đe dọa, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự của nhà bao, cản trở nhà báo hành nghề hợp pháp hoặc ngược lại, người lợi dụng tư cách nhà báo để can thiệp trái pháp luật, cản trở hoạt động cơ quan, tổ chức nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự bị phạt từ một đến năm triệu đồng/lần vi phạm.
Du lịch lữ hành Lào Cai tăng gấp 3 lần
Sáu tháng qua, hoạt động du lịch trên địa bàn Lào Cai đã có mức tăng trưởng khá. Tổng doanh thu du lịch trên địa bàn đạt 26,5 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ năm ngoái và bằng 56% kế hoạch năm. Toàn ngành đã đón gần 200.000 lượt khách du lịch, tăng 85% so với cùng kỳ và bằng 80% kế hoạch năm; trong đó khách du lịch lữ hành có hơn 100.000 lượt, tăng gấp 3 lần so với cùng lỳ năm ngoái. Số ngày lưu trú của khách tăng nên doanh thu của nhà hàng, khách sạn cũng tăng 41%.
Lào Cai được xếp vào 1 trong 16 điểm du lịch quốc gia. Tỉnh đang lập đề án phát triển du lịch, trong đó đầu tư xây dựng Sapa, Bắc hà, Bát xát, thị xã Lào Cai trở thành khu du lịch hấp dẫn, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, có môi trường sinh thái bền vững, sạch đẹp.
Miễn thị thực cho khách du lịch tàu biển chưa triển khai được
Tổng cục Du lịch vừa đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép miễn thị thực đối với khách du lịch tàu biển trong thời gian dài chờ ban hành quy chế khách quá cảnh. Được biết, thủ tướng đã chấp thuận đề nghị trên vào cuối năm ngoái, song có thể không triển khai được vì trong văn bản chấp thuận có ghi miễn thị thực cho khách du lịch tàu biển theo Quy chế khách quá cảnh. Nhưng đến nay Bộ công an chưa ban hành Quy chế này. Khi nào Quy chế có hiệu lực vấn đề thị thực cho khách du lịch tàu biển sẽ áp dụng theo quy chế.
Nhiều chỉ tiêu về kinh tế đạt mức tăng trưởng tương đối cao
Vừa qua, Tổng cục Thống kê đã tổ chức họp báo về tình hình kinh tế xã hội cả nước trong 6 tháng đầu năm 2001. Ông Lê Mạnh Hùng, quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã thông báo: Nhiều chi tiêu về kinh tế của cả nước đã đạt mức tăng tương đối cao so với 6 tháng đầu năm 2000 như tổng sản phẩm trong nước tăng 7,1%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,1%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 7,6%… Tuy nhiên, ngoài kết quả trên, nền kinh tế vẫn tồn tại một số khó khăn lớn như thị trường tiêu thụ nông sản hàng hóa, sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và của các sản phẩm công nghiệp nói riêng còn yếu. Sự suy giảm của nền kinh tế khu vực cũng như kinh tế thế giới tác động tiêu cực đến diễn biến kinh tế – xã hội nước ta 6 tháng cuối năm. Theo nhận định của Tổng cục Thống kê, các cấp, các ngành, các địa phương cần phải có nhiều giải pháp đồng bộ và nỗ lực hơn nữa thì mới hoàn thành được nhiệm vụ kế hoạch năm 2001 mà Quốc hội đã đề ra.
Duy Phú – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(181)2001

Thi cử qua con mắt nhà văn Ngô Tất Tố

Ngô Tất Tố, nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn 1930 – 1945, nổi tiếng với tác phẩm bất hủ “Tắt đèn” nói về nỗi thống khổ của nông dân Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám. Sau đó là tác phẩm “Việc làng” phê phán hủ tục trong làng xã thời đó. Còn với “Lều chõng”, ông phê phán chế độ khoa cử, chính sách giáo dục và cách thức tuyển chọn nhân tài rất lỗi thời của nhà Nguyễn (từ năm Minh Mệnh thứ 12 – 1831 đến năm Kiến Phúc – 1884).
Thời ấy, Nhà nước phong kiến tổ chức các trường thi tập trung số thí sinh lớn. Ngô Tất Tố tả: “có năm mưa to gió lớn, nước ngập trường thi, ngồi trên chõng mà như trên đáy ao: đít áo, đũng quần nước bùn thấm bê bết. Mấy trăm con người, ai cũng như ai, mặt tái mét, môi thâm xì, áo quần lấm bê bết như người đào dưới đất lên”.
Thí sinh đi thi phải tự lo đủ thứ: tay xách, nách mang, cổ đeo, vai cõng… từ lều chõng,chiếu, ống đựng quyển, áo tơi… có người không chịu nỗi ngã chỏng gọng giữa đường, không còn đủ sức để dự kỳ thi. Đến cổng trường thì còn bị “lần giải lưng và moi các gấu áo, ống quần, bị cởi tung cả bộ gọng lều”… đề phòng mang tài liệu vào trường thi. Trong lúc làm bài vừa phải huy động cả trí não làm văn sách, vừa phải dè chừng bị phạm húy. Theo quy định thời đó, phải kiêng khinh húy, trọng húy của vua và cả tên cung điện, lăng tẩm trong kinh đô. Nếu muốn dùng phải viết chệch đi, chẳng hạn: hoa thành huê, vũ thành võ… Nếu làm trái, bài có hay mây cũng bị loại thẳng thừng.
Khó nhọc như thế mà thí sinh vẫn phải đua chen vì không học hành, thi cử đỗ đạt thì không còn đường tiến thân nào khác. Nhà văn Ngô Tất Tố đã qua hình tượng Vân Hạc, nhân vật trung tâm của tác phẩm để phê phán: “Thi với cử thế này thật nhục hơn con chó. Dù có đỗ đến ông gì, làm đến ông gì, cũng không bõ công”…
Cầu Mường Thanh kêu cứu
Sức hút mạnh mẽ nhất để khách du lịch đến với Điện Biên Phủ chính bởi chiến thắng lịch sử Điện Biên “ Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Vì thế, đến với Điện Biên Phủ, ai cũng muốn tận mắt chứng kiến các chứng tích lịch sử đánh dấu sự chiến bại của giặc Pháp vào buổi chiều 07/5/1954.
Hầu hết quần thể di tích lịch sử về chiến thắng Điện Biên Phủ tập trung ở lòng chảo Mường Thanh: Hầm Đờ Cát Tơ Ri, đồi A1, sân bay Mường Thanh. Trong dịp kỷ niệm 45 năm chiến thắng Điện Biên, các di tích này được đầu tư trùng tu, tôn tạo. Nhưng riêng cầu Mường Thanh, dường như đã bị bỏ quên, để nay nó trở nên hư hỏng nặng.
Dòng sông Nậm Rốn huyền diệu chia cánh đồng Mường Thanh thành hai dải Đông – Tây. Ngay từ khi nhảy dù xuống lòng chảo Điện Biên Phủ, tháng 11 năm 1953, thực dân Pháp đã nghĩ ngay tới việc phải thiết kế xây dựng một cây cầu bắc qua sông làm tuyến giao thông chính nối liền cánh đồng Mường Thanh thành một dải. Vì thế, cầu Mường Thanh được làm băng khung chịu lực với hệ thống sắt giằng kiên cố. Mặt cầu làm bằng các thanh gỗ đủ chịu lực cho xe tăng và đại pháo của Pháp qua lại. Đã 47 năm trôi qua, những thanh gỗ trên mặt cầu đã hỏng rất nhiều. Trên mặt cầu có gần 200 thanh, nay số thanh đã hỏng đã lên tới gần một nửa, trong đó có những thanh đã bị gãy, rơi mất, để lại mặt cầu những lỗ hỏng to khiến cho việc đi lại trở nên hết sức nguy hiểm.
Dù cách đó không xa là cây cầu mới bằng bê tông cốt thép làm tuyến giao thông chính, nhưng hàng ngày người dân nơi đây vẫn phải đi trên cây cầu này và hơn thế nữa, sẽ ra sao nếu một Điện Biên Phủ không có cầu Mường thanh? Cả Việt Nam chỉ có một Điện Biên Phủ, mà Điện Biên Phủ chỉ có một cầu Mường Thanh! Vì thế, thiết nghĩ, các cấp, các ngành cần quan tâm bảo vệ, trùng tu kịp thời di sản thiêng liêng này.
Đỗ Quốc Bảo – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(181)2001

Lịch sử các chữ viết Việt Nam

Chuyên mục sổ tay hướng dẫn viên du lịch kỳ này xin giới thiệu vắn tắt để các bạn cùng tham khảo về lịch sử các loại chữ viết của Việt Nam từ xưa đến nay.
Chữ Hán: Chữ Hán vào Việt Nam theo con đường giao lưu văn hóa bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên. Hiện nay, ở Việt Nam còn lưu giữ một số hiện vật như đỉnh cổ có khắc chữ tượng hình chữ Hán cổ. Điều này một phần chứng minh được rằng chữ Hán cổ xuất hiện ở Việt Nam khá sớm và thực sự trở thành phương tiện ghi chép và truyền thống trong loài người Việt kể từ những thế kỷ đầu trước công nguyên trở đi. Đến thế kỷ VII- IX chữ Hán và tiếng Hán được sử dụng ngày càng rộng rãi ở Việt Nam. Thời kỳ này tiếng Hán được sử dụng như một phương tiện giao tiếp, giao lưu kinh tế thương mại với Trung Quốc. Do Việt Nam bi ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong khoảng thời gian hơn 1 ngàn năm, vì hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán có ảnh hưởng to lớn như thế nào đối với nền văn hóa của nước Việt Nam xưa. Từ sau thế kỷ thứ X, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trọng để phát triển văn hóa dân tộc.
Chữ Nôm: Dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, một văn tự ngoại lai không thể nào đáp ứng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép các diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm của bản thân người Việt, Chĩnh vì vậy chữ Nôm đã ra đời để bù đắp cho việc chữ Hán không đáp ứng nổi.
Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét, thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếng việt. Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn.
Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn đồng hóa chữ Hán, tức là dùng chữ Hán để phiên âm các từ Việt thường là tên người, tên vật, tên đất, cây cỏ muông chim, đồ vật… xuất hiện lẻ tẻ trong các văn bản Hán. Những từ chữ Nôm này xuất hiện vào thế kỷ đầu sau công nguyên đặc biệt rõ nét nhất là vào thế kỷ thứ VI.
Giai đoạn sau: Ở giai đoạn này, bên cạnh này tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm từ tiếng việt, đã xuất hiện các chữ Nôm tự tạo nên một số nguyên tắc nhất định. Loại chữ Nôm tự tạo này, sau khi phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt. Từ thời lý thế kỷ XI đến thời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực sự hoàn chỉnh.
Theo sử sách đến naycòn ghi lại được một số tác phẩm đã được viết bằng chữ Nôm như đời Trần có cuốn “Thiên Tông Bản Hạnh”. Đến thế kỷ XVIII – XIX chữ Nôm đã được phát triển đến mức cao, át cả địa vị chữ Hán. Các tác phẩm như hịch Tây Sơn, Khoa thi hương dưới thời Quang Trung 1789 đã có bài thi làm bằng chữ Nôm. Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng được viết bằng chữ Nôm là những ví dụ.
Như vậy, có thể thấy chữ Hán và chữ Nôm có những khác nhau cơ bản về lịch sử ra đời, mục đích sử dụng và mỗi chữ có bản sắc riêng về văn hóa.
Chữ Quốc Ngữ hiện nay: Việc chế tác chữ Quốc ngữ là một công việc tập thể trong nhiều linh mục dòng tên người châu u, trong đó nổi bật lên vai trò của Francesco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antoni Barbosa và Alexandre De Rhodes. Trong công việc này có sự cộng tác tích cực và hiệu quả của nhiều người Việt Nam, trước hết là các thầy giảng Việt Nam giúp việc cho các linh mục người u. Alexandre De Rhodes đã có công lớn trong việc góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bổ sung quốc ngữ. Đặc biệt là ông đã dùng bộ chữ ấy để biên soạn và tổ chức dấu ấn lần đầu tiên cuốn từ điển Việt – Bồ – La trong đó có phần về ngữ pháp tiếng việt và cuốn phép giảng tám ngày. Xét về ngôn ngữ thì cuốn diễn giải vắn tắt về tiếng An Nam hay tiếng đàng ngoài in chung trong từ điển có thể được xem như công trình đầu tiên khảo cứu về ngữ pháp. Còn cuốn pháp giải tám ngày có thể được coi như tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ, sử dụng lời văn tiếng nói bình dân hàng ngày của người Việt Nam thế kỷ XVII.
Tuy chữ Quốc ngữ của Alexandre De Rhodes năm 1651 trong cuốn từ điển Việt Bồ La đã khá hoàn chỉnh nhưng cũng phải chờ đến từ điển Việt –La 1772, tức là 121 năm sau, với những cải cách quan trọng của Pigneau de Beshaine thì chữ quốc ngữ mới có diện mạo giống như hệ thống chữ Việt mà chúng ta đang dùng hiện nay.
Lê Trọng Túc – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 26 (191) 2001

Hiện tượng các con vật trên kiến trúc gia đình – Phần 2

Cùng thời gian trên, Đắk Lắk đã đón 38,542 lượt khách với thời gian lưu trú 52,277 ngày, công suất sử dụng buồng phòng đạt 52% các doanh nghiệp kinh doanh du lịch đã tiến hành lập dự án quy hoạch phát triển các điểm du lịch ở Buôn Đôn, cum thác Draysap – Gia Long – Trinh Nữ và chuẩn bị mở tour du lịch về nguồn tại hang đá Daktur thuộc xa Cupui huyện Krông bông.
Vở balê “Người đẹp ngủ trong rừng” ra mắt khán giả thủ đô
Vừa qua tại nhà hát lớn Hà Nội, Trung tâm Ngôn ngữ văn minh Pháp – Hà Nội kết hợp với Bộ VH – TT, Công ty Elicom, khách sạn Sumway, Nhà hát nhạc vũ khịch Việt Nam đã tổ chức cho các diễn viên múa của Trung tâm múa quốc gia Caen Pháp và đoàn múa Ekaterinbourg Nga trình diễn vở bale hiện đại “Người đẹp ngủ trong rừng” của nhà biên đạo múa lừng danh thế giới Karine Saporta Pháp dựa trên ý tưởng của Olev Petrov Giám đốc Đoàn múa Ekaterinbourg và nhạc nền của Tchaikovski. Vượt qua khỏi sự gò bó và mặc cho trí tưởng tượng tha hồ bay bổng, sức mạnh và tính độc đáo trong vở diễn chính là sự hòa trộn một cách duyên dáng và táo bạo giữa múa cổ điển và múa đương đại, Karine Saporta đã chính thức một tác phẩm ngủ quên từ một thế kỷ để làm cho nó sống động theo thời thượng. Cô khẳng định: “Thật lý thú khi dựng một vở múa đương đại trong một nền nhạc thiết kế cho một vở bale. Đổi mới tác phẩm vào mỗi thế kỷ cúng quan trọng, điều đó cho phép tái tạo lại di sản”. Được biết vào ngày 08/06/2001. Đoàn sẽ diễn một buổi tại TP. Hồ Chí Minh, sau đó lưu diện ở Phnom Penh, Jakarta và Băngkok.
Phát triển 6 pho tượng cổ ở Bắc Ninh.
Vừa qua, trong khi đang trùng tu, sửa chữa, nhân dân địa phương đã phát hiện ở dưới móng chân tường của chùa Cẩm Giang thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có chôn 6 pho tượng bằng đồng gồm: “Tam thế”, 1 pho tượng “A di đà đứng trên toà sen”, 1 pho tượng “Thích ca nhập niết bàn”, 1 pho tượng “Thích ca sơ dinh”. Theo đánh gia ban đầu của cơ quan chuyên môn thì 6 pho tượng trên có niên đại khoảng nữa thế kỷ 18 – 19. Các pho tượng nói trên đều nhỏ, nhất là pho tượng “Thích ca sơ sinh” cũng chỉ 40 cm, nặng 9,8 kg.
Saigontourist mở văn phòng đại diện tại nước ngoài.
Tổng công ty du lịch Sài Gòn đã đăng ký phối hợp đối tác nước ngoài mở rộng các văn phòng đại diện tại nước ngoài, trước mắt là tại hai thị trường Mỹ và Canada. Dự kiến hoạt động chính của Tổng công ty tại các thị trường này là xoay quanh lĩnh vực nhà hnàg, lữ hành và tiếp thị du lịch. Trong thời gian vừa qua, Saigontourist cũng đã tiến hành đẩy mạnh công tác quảng bá, tiếp thị tại các thị trường trọng điểm thông qua các hoạt động hội chợ, lễ hội, liên kết mở nhà hành tại Đức, Nhật, Pháp… sắp tới Saigontourist tham gia các kỳ lễ văn hoá du lịch Việt Nam tại Úc, Trung Quốc, Bỉ.
Mở lớp bồi dưỡng kiến thức cho các hướng dẫn viên ở các tỉnh phía Nam.
Vừa qua tổng cục du lịch Việt Nam, Sở du lịch thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Trường đại học KHXH&NV Hà Nội đã khai giảng lớp bồi dưỡng hiến thức và nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch. Tham gia lớp học có 80 học viên là các hướng dẫn viên du lịch, cán bộ hoạt động lữ hàng quốc tế có thời gian công tác 24 tháng trở lên thuộc các địa phương từ Đồng Nai đến Kiên Giang. Đây là lớp bồi dưỡng thứ 3 sau hai lớp được tổ chức ở Hà Nội ngày 7/5/2001 và Đà Nẵng ngày 15/5/2001.
Lớp học kéo dài đến ngày 31/6/2001 do tiến sĩ, thạc sĩ, giảng viên của Trường Đại học KHXH&NV giảng dạy và kiểm tra chuyên môn.
Đựoc biết, sau khi bế giảng các lớp học nói trên, học viên sẽ được cấp chứng chỉ và trên cơ sơ đó Tổng cục du lịch sẽ xét và cấp thẻ hành nghề hướng dẫn viên du lịch.
Đính chính
Trên trang 6, số báo 22 ra ngày 1.6.2001, do sơ xuất, tòa soạn đã đăng nhầm ảnh ông Đoàn Bá Nhiên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn ở bài “Khai thác thị trường du lịch bên biên giới Việt Trung” và chú thích là ông Lương Đăng Ninh. Báo du lịch thành thật xin lỗi hai ông và bạn đọc.
Quỳnh Hoa – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Hiện tượng các con vật trên kiến trúc gia đình – Phần 1

Hiện tượng các con vật trên kiến trúc gia đình , chùa, miếu mạo mang ý nghĩa gì.
Chuyên mục sổ tay hướng dẫn viên du lịch kỳ này xin được tiếp tục giới thiệu với các bạn ý nghĩa hình tượng của 3 con vật rùa, phượng, hạc, thường có trên công trình kiến trúc đình, chùa, miếu mạo Việt Nam.
Hình tượng con rùa: Về mặt sinh học, rùa là loại bọ sát lưỡng tính cứ có độ tuổi thọ cao và thân hình vững chắc. Nó có thể nhịn ăn uống mà vẫn sống trong thời gian dài. Rùa không ăn nhiều, nhịn đói tốt nên nó được coi là một vật thanh cao, thoát tục. Trên bàn thờ của các đền chùa, miếu mạo, chúng ta thường thấy rùa đội hạc, rùa đi với hạc trong bộ đỉnh thơm ngát vàt thanh lịch.
Rùa tượng trưng cho sự trường tồn và bất diệt. Hình ảnh rùa đội bi đá, trên bia mộ ghi lại sử sách của dân tộc Việt Nam chứng tỏ rùa là loại vật chuyển tải thông tin văn hóa. Tuy không phải là con vật của Phật giáo, nhưng rùa cũng là biểu trưng cho sự trường tồn của Phật giáo. Trong một số ngôi chùa thời Lý – Trần, rùa được chạm thành tường bằng đá làm bệ đội bia. Dáng rùa đầu to, mập, vươn ra khỏi mai, mõm thuôn nhọn. mắt nhỏ, bốn chận khép sát vào thân mai. 82 tấm bia đã ghi tên tiến sĩ đỗ đạt được đặt tên trên lưng rùa, một con vật biểu tượng sự trường tồn, hiện còn lưu giữ tại Văn Miếu – Quốc Tự Giám, Hà Nội là bằng chứng hùng hồn biểu hiện nền văn hiến bất diệt của dân tộc Việt Nam.
Hình tượng chim phượng: Phượng là linh vật được biểu hiện cho tầng trên. Phượng thường có mỏ vẹt, thân chim, cổ rắn, đuôi công, móng chim cứng đứng trên hồ sen. Với ý nghĩa đầu đội công lý, .ắt là mặt trời, mặt trăng, lưng cõng bầu trời, lông là cây cỏ, cánh là gió, đuôi là tinh tú, chân là đất, vì thế phượng tượng trưng cho tất cả vũ trụ. Khi phượng ngậm lá đề hoặc ngậm cành hoa đứng trên đài sen, nó biểu tượng là con chim của đức Phật. Tức là có khả năng giảng về đạo pháp, làm nhiệm vụ giống như các nữ thần chim: nhảy, múa, hát ca chào mừng Phật pháp.
Quan niệm của người Việt Nam cho rằng phượng xuất hiện báo hiệu đất nước được thái bình. Chim phượng là loài chim đẹp nhất trong 360 loài chim. Nó có thân hình quyến rũ, kết tinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, thanh lịch, vẻ duyên dáng của tất cả các loài chim. Chim phượng còn tượng trưng cho nữ tính, cho phái đẹp của tầng lớp qúy phái.
Hình tượng con hạc: Ở Việt Nam hạc là con vật của đạo giáo. Hình tượng hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu…, hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện sự hài hòa của đất và trời, giữa hai thái cửa âm và cửa dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh túy và thanh cao. Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn rất thân nhau. Rùa là tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, hạc là tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến cùng nước. Điều này nói lên lòng chung thủy và sự tương trợ giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.
Đắk Lắk doanh thu từ du lịch tăng 21%
5 tháng đầu năm 2001, doanh thu từ du lịch của Đắk Lắk đạt 17,6 tỷ đồng, bằng 55% kế hoạch năm và tăng 21% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có doanh nghiệp thuộc ngành du lịch thực hiện gần 12 tỷ đồng, đạt 43% kế hoạch năm, tăng 15% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 68% so với doanh thu du lịch trong tỉnh.
Quỳnh Hoa – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Cần gì nhất để cổ phần hóa?

Quá trình cổ phần hóa của Công ty Du lịch dịch vụ Hoàn Kiếm (thuộc Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm) diễn ra không dễ dàng gì khi mà con số thua lỗ của đơn vị trong các năm 1997 – 2001 là 3,2 tỷ đồng. Nếu không giải quyết được khoản nợ này thì việc cổ phần hóa xem như bế tắc. Nhưng giải quyết thế nào là cả một vấn đề.
Sau khi xem xét thực trạng của Công ty, Phòng Kinh tế quận Hoàn Kiếm cùng một số ngành chức năng đã đưa ra 2 hướng: Hoặc Công ty tuyên bố phá sản, giải thể, hoặc Ủy ban nhân dân thành phố cho phép Công ty chuyển quyền sử dụng địa điểm 72 – 74 Hàng Buồm (tức Nhà hàng Mỹ Kinh) để lấy tiền trang trải. Nhưng nếu để giải thể Công ty thì quả là một khó khăn quá lớn cho 200 lao động của đơn vị. Trước tình hình ấy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm đã chủ trì một cuộc hội nghị với nhiều ngành và “nhất trí cao với phương án cho phép Công ty Du lịch dịch vụ Hoàn Kiếm trả địa điểm 72 – 74 Hàng Buồm cho ngành nhà đất thuộc thành phố quản lý để nhận đền bù hỗ trợ xóa nợ của Công ty và tiến hành xong cổ phần hóa” (Công văn số 229/TB-UB ngày 19.3.2001). Đây là lời giải tình thế trong bài toán thua lỗ của Công ty bởi chỉ riêng phải trả tiền lãi cho số tiền lỗ đã là vài trăm triệu mỗi năm. Hơn nữa, theo lãnh đạo Công ty, lựa chọn Mỹ Kinh để chuyển nhượng bởi bên cạnh các điều kiện cho phép có đủ khoản tiền “trám” vào số thua lỗ thay cho việc phải chuyển nhượng vài cơ sở khác, thì còn có lý do là trong 3 năm qua, Mỹ Kinh đã thua lỗ 900 triệu đồng.
Thế nhưng, mới chỉ là chủ trương thôi mà việc chuyển nhượng Nhà hàng Mỹ Kinh đã vấp phải sự phản ứng của một số cán bộ, nhân viên đơn vị bởi họ sợ không có việc làm. Lo âu của họ là chính đáng bởi đó là sự sống còn của mỗi gia đình. Chúng tôi đã đem sự âu lo này ra trao đổi trong buổi làm việc với Giám đốc Công ty Trần Ngọc Huyền thì được ông khẳng định: Dù chuyển nhượng Mỹ Kinh hay cơ sở nào khác thì Công ty cũng có trách nhiệm bố trí số lao động thuộc đơn vị đó vào các địa điểm còn lại trong Công ty. Thậm chí, có điều kiện để cổ phần hóa, đời sống người lao động còn có khả năng được cải thiện.
Rõ ràng, vấn đề ở đây chỉ là có sự chưa thấu đáo lẫn nhau giữa người quản lý và người lao động. Nên chăng, Công ty tổ chức cuộc họp dân chủ, phân tích thực trạng của đơn vị và cùng mọi Cán bộ công nhân viên bàn bạc, tìm biện pháp hữu hiệu nhất để tháo gỡ khó khăn. Việc tuyên truyền, đả thông tư tưởng quen bao cấp đã như “thành trì” trong một bộ phận người lao động cũng là không thể thiếu để đẩy nhanh sự thay đổi trong Công ty.
Chúng tôi cho rằng, không cần bàn đến nữa trách nhiệm thua lỗ thuộc về ai khi “báo cáo tình hình hoạt động của Công ty” do Phòng Kinh tế quận đã chỉ rõ là do “năng lực quản lý kinh tế yếu kém”, mà trong lúc này, việc cấp thiết là đặt lợi ích của người lao động lên trên với mục tiêu cổ phần hóa Công ty. Nhưng điều có ý nghĩa mở đường cho việc cổ phần hóa là phải “giải mã” được khoản tiền hơn 3 tỷ kia. Trước hết, vấn đề này đòi hỏi sự nhất trí, đồng lòng trong tập thể Công ty mà quyền lợi của 200 con người phải được coi trọng hơn là lợi ích của thiểu số. Để doanh nghiệp tồn tại như mong muốn, việc chỉ đạo của quận Hoàn Kiếm là hết sức cần thiết trong việc chuyển nhượng một phần tài sản cố định của Công ty để xóa nợ. Sau khi đã ra thông báo số 229, lẽ ra, Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm phải có ý kiến để bảo vệ kết luận của cuộc họp liên ngành hoặc chủ trương thay đổi để Công ty “biết đường” xử lý. Đằng này, theo lãnh đạo Công ty Du lịch dịch vụ Hoàn Kiếm thì cấp trên không phản ứng gì trước các ý kiến nhiều chiều ở bên dưới khiến Công ty hết sức lúng túng.
Để doanh nghiệp tồn tại, bên cạnh vốn liếng cùng các điều kiện vật chất thì sự chỉ đạo mang ý nghĩa sống còn!
Cuộc đại cách mạng văn hóa
Năm 1967, khi cuộc đại cách mạng văn hóa bước vào cao trào thì Phổ Nghi tái phát bệnh ung thư phải vào nhập viện. Mặc dù được Thủ tướng Chu n Lai bảo vệ nhưng ông vẫn bị Hồng vệ binh đe dọa nên các cán bộ y tế trong bệnh viện không dám chăm sóc ông, bỏ mặc ông với những cơn đau quay quắt và thậm chí, không ai dọn cả khi ông đại tiểu tiện ra giường. Sự thăm nom của người vợ trẻ thoẳng hoặc rồi mất hẳn, để lại ông với nỗi khao khát được nhìn thấy bà lần cuối trong vô vọng.
Và người đến thăm không phải là người mà ông mong đợi. Bà là một trong các hầu thiếp mà ông đã bỏ rơi trong những năm tháng vinh hiển của cuộc đời. Bà Ngọc Cầm. Bà giận giữ bởi ông đã nhắc đến tên bà trong cuốn hồi ký của mình, mà theo bà, tức là đã lôi bà xuống bùn cùng ông… Rồi ông mất, trong đau đớn cả về thể chất lẫn tinh thần, trong sự cô đơn tận cùng vì khi ấy, chỉ có một người cháu ở bên chăm sóc…
Ngọc Thanh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(181)2001

Hội xuân Du lịch Văn hóa

Mười sự kiện tiêu biểu của ngành du lịch năm 2000, hội xuân Du lịch – Văn hóa Việt Nam năm 2000 diễn ra từ ngày 26/1 đến 2/2 tại Hà Nội, do Tổng cục Du lịch, Bộ Văn hóa – Thông tin và Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội phối hợp tổ chức. Đây là sự kiện mở đầu cho việc triển khai thực hiện nội dung tuyên truyền quảng bá du lịch và gắn hoạt động du lịch với các lễ hội văn hóa dân tộc. Tại đây, tính đa dạng phong phú của nền văn hóa truyền thống Việt Nam đã được thể hiện bằng nhiều thể loại mang đậm màu sắc đặc trưng của các dân tộc, địa phương. Đồng thời khẳng định đó là tiềm năng đặc trưng của du lịch Việt Nam.
Festival Huế 2000 diễn ra từ ngày 8 đến 19/ 4 đã thu hút hàng chục ngàn khách du lịch trong nước và quốc tế. Tổng cục Du lịch là thành viên chính của Ban tổ chức, cùng với sự tham gia trực tiếp của các đơn vị thuộc ngành du lịch Thừa – Thiên – Huế. Đây không chỉ là cuộc trình diễn quy mô lớn về nét đặc trưng của văn hóa Huế, mà còn là cuộc biểu dương những tinh hoa văn hóa dân tộc, một lễ hội văn hóa, du lịch mang tầm cỡ quốc tế. Festival Huế 2000 đồng thời là cơ hội tuyên truyền quảng bá của ngành Du lịch Việt Nam nói chung và Du lịch Thừa Thiên – huế nói riêng.
Ngày 30/ 3, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 07/ 2000/ CT – CP gửi các Bộ, ngành, các cấp chính quyền địa phương, nhằm tăng cường giữ gìn trật tự trị an và vệ sinh môi trường tại các điểm tham quan, du lịch. Quán triệt tinh thần chỉ thị các ngành, các địa phương, nhất là các địa phương có các di tích, thắng cảnh phục vụ khách du lịch tham quan, các trung tâm du lịch, các thành phố lớn… đã sắp xếp lại hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch tại địa bàn, chấn chỉnh các hoạt động sản xuất mua bán, trao đổi các mặt hàng phục vụ khách du lịch… Đã có sự phối hợp giữa các ngành, các cấp chính quyền khắc phục các tệ nạn xã hội tại các điểm, trung tâm du lịch, làm lành mạnh môi trường du lịch.
Lễ kỷ niệm 40 năm thành lập ngành Du lịch Việt Nam (9/7/1960 – 9/7/2000) được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 8 – 7. Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm, Trưởng ban chỉ đạo Nhà nước về Phát triển Du lịch đã tới dự và biểu dương những thành tựu của ngành Du lịch qua 40 năm xây dựng và trưởng thành. Nhân dịp này, Tổng cục Du lịch đã tổ chức Hội thi hướng dẫn viên Du lịch lần thứ nhất, gồm hơn 100 thí sinh từ các đơn vị, doanh nghiệp Du lịch trên cả nước tham dự; tổng kết phong trào thi đua toàn ngành năm 1999 cho 10 công ty lữ hành quốc tế và 10 khách sạn tiêu biểu trên cả nước.
Ngày 25 và 26/ 7, tại thành phố Đà Nẵng Chi hội P T Việt Nam đã tổ chức Đại hội thường niên lần thứ 6, kết thúc nhiệm kỳ 1998 – 2000. Tại Đại hội này, PATA Việt Nam đã khẳng định vai trò của mình trong việc phối hợp cùng Tổng cục Du lịch và các cơ quan liên tục thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền quảng bá du lịch, triển khai Chương trình hành động quốc gia về Du lịch. Đại hội đã bầu Ban chấp hành nhiệm kỳ mới gồm 15 thành viên, do Phó tổng cục trưởng TCDL Phạm Từ làm Chủ tịch.
Ngày 24/ 8, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 39/ 2000/ NĐ – CP về cơ sở lưu trú du lịch. Đây là văn bản pháp lý quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch, đồng thời nâng cao hiệu quả về quản lý Nhà nước đối với loại hình kinh doanh này. Nghị định này cụ thể hóa những quy định trong Pháp lệnh Du lịch về cơ sở lưu trú, tạo cơ sở pháp lý để chuẩn bị hóa chất lượng dịch vụ và ngành nghề kinh doanh.
Ngày 5 và 6/11, Đoàn cấp cao Bộ du lịch Tahis Lan do ông Adisain Bodharamik, Bộ trưởng văn phòng Thủ tướng, Chủ tịch cơ quan Du lịch quốc gia Thái Lan, dẫn đầu đã sang thăm và làm việc tại Việt Nam. Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng đã ký biên bản ghi nhớ phiên họp, mở ra nhiều vấn đề cùng quan tâm thực hiện, nhằm tăng cường hợp tác có hiệu quả về Du lịch giữa hai nước và với các nước khác trong khu vực.
Từ ngày 28/11 đến 1/12, Đoàn cấp cao Cục Du lịch quốc gia Trung Quốc do Phó Cục trưởng Tôn Cương dẫn đầu đã sang và làm việc tại Việt Nam. Phó Tổng cục trưởng Phạm Từ dẫn đầu đoàn cấp cao tổng cục du lịch Việt Nam đã tiếp và hội đàm với Đoàn. Hai bên đã thỏa thuận và ký biên bản ghi nhớ về Việt Nam – Điểm đến của công dân Trung Quốc. Bản ghi nhớ gồm 9 vấn đề liên quan tới cả hai bên, nhằm nâng cao chất lượng phục vụ công dân Trung Quốc đi du lịch Việt Nam bằng tiền riêng của mình.
Ngày 8/ 12, tại cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài. Tổng cục Du lịch và Tổng công ty Hàng không Việt Nam đã tổ chức lễ đón khách du lịch quốc tế thứ 2 triệu đến Việt Nam trong năm 2000, hoàn thành chỉ tiêu đón 2 triệu khách quốc tế của toàn ngành Du lịch trong năm 2000. Vị khách thứ 2 triệu là cô Vilard Karine, quốc tịch Pháp, đến từ Paris theo tour của Công ty du lịch Thành phố Hồ Chí Minh thuộc tổng công ty Du lịch Thành phố Du lịch Sài Gòn. Tại lễ đón, Phó Tổng cục trưởng Phạm Từ đã phát biểu, đại ý: Năm 1994, du lịch Việt Nam đón khách quốc tế thứ 1 triệu, đến năm 2000, đón khách thứ 2 triệu. Nhưng không đợi đến 6 năm, chúng ta sẽ đón khách quốc tế thứ 3 triệu, 4 triệu.
Nguyễn Chất – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001