Lịch sử các chữ viết Việt Nam

Chuyên mục sổ tay hướng dẫn viên du lịch kỳ này xin giới thiệu vắn tắt để các bạn cùng tham khảo về lịch sử các loại chữ viết của Việt Nam từ xưa đến nay.
Chữ Hán: Chữ Hán vào Việt Nam theo con đường giao lưu văn hóa bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên. Hiện nay, ở Việt Nam còn lưu giữ một số hiện vật như đỉnh cổ có khắc chữ tượng hình chữ Hán cổ. Điều này một phần chứng minh được rằng chữ Hán cổ xuất hiện ở Việt Nam khá sớm và thực sự trở thành phương tiện ghi chép và truyền thống trong loài người Việt kể từ những thế kỷ đầu trước công nguyên trở đi. Đến thế kỷ VII- IX chữ Hán và tiếng Hán được sử dụng ngày càng rộng rãi ở Việt Nam. Thời kỳ này tiếng Hán được sử dụng như một phương tiện giao tiếp, giao lưu kinh tế thương mại với Trung Quốc. Do Việt Nam bi ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong khoảng thời gian hơn 1 ngàn năm, vì hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán có ảnh hưởng to lớn như thế nào đối với nền văn hóa của nước Việt Nam xưa. Từ sau thế kỷ thứ X, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trọng để phát triển văn hóa dân tộc.
Chữ Nôm: Dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, một văn tự ngoại lai không thể nào đáp ứng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép các diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm của bản thân người Việt, Chĩnh vì vậy chữ Nôm đã ra đời để bù đắp cho việc chữ Hán không đáp ứng nổi.
Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét, thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếng việt. Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn.
Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn đồng hóa chữ Hán, tức là dùng chữ Hán để phiên âm các từ Việt thường là tên người, tên vật, tên đất, cây cỏ muông chim, đồ vật… xuất hiện lẻ tẻ trong các văn bản Hán. Những từ chữ Nôm này xuất hiện vào thế kỷ đầu sau công nguyên đặc biệt rõ nét nhất là vào thế kỷ thứ VI.
Giai đoạn sau: Ở giai đoạn này, bên cạnh này tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm từ tiếng việt, đã xuất hiện các chữ Nôm tự tạo nên một số nguyên tắc nhất định. Loại chữ Nôm tự tạo này, sau khi phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt. Từ thời lý thế kỷ XI đến thời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực sự hoàn chỉnh.
Theo sử sách đến naycòn ghi lại được một số tác phẩm đã được viết bằng chữ Nôm như đời Trần có cuốn “Thiên Tông Bản Hạnh”. Đến thế kỷ XVIII – XIX chữ Nôm đã được phát triển đến mức cao, át cả địa vị chữ Hán. Các tác phẩm như hịch Tây Sơn, Khoa thi hương dưới thời Quang Trung 1789 đã có bài thi làm bằng chữ Nôm. Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng được viết bằng chữ Nôm là những ví dụ.
Như vậy, có thể thấy chữ Hán và chữ Nôm có những khác nhau cơ bản về lịch sử ra đời, mục đích sử dụng và mỗi chữ có bản sắc riêng về văn hóa.
Chữ Quốc Ngữ hiện nay: Việc chế tác chữ Quốc ngữ là một công việc tập thể trong nhiều linh mục dòng tên người châu u, trong đó nổi bật lên vai trò của Francesco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antoni Barbosa và Alexandre De Rhodes. Trong công việc này có sự cộng tác tích cực và hiệu quả của nhiều người Việt Nam, trước hết là các thầy giảng Việt Nam giúp việc cho các linh mục người u. Alexandre De Rhodes đã có công lớn trong việc góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bổ sung quốc ngữ. Đặc biệt là ông đã dùng bộ chữ ấy để biên soạn và tổ chức dấu ấn lần đầu tiên cuốn từ điển Việt – Bồ – La trong đó có phần về ngữ pháp tiếng việt và cuốn phép giảng tám ngày. Xét về ngôn ngữ thì cuốn diễn giải vắn tắt về tiếng An Nam hay tiếng đàng ngoài in chung trong từ điển có thể được xem như công trình đầu tiên khảo cứu về ngữ pháp. Còn cuốn pháp giải tám ngày có thể được coi như tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ, sử dụng lời văn tiếng nói bình dân hàng ngày của người Việt Nam thế kỷ XVII.
Tuy chữ Quốc ngữ của Alexandre De Rhodes năm 1651 trong cuốn từ điển Việt Bồ La đã khá hoàn chỉnh nhưng cũng phải chờ đến từ điển Việt –La 1772, tức là 121 năm sau, với những cải cách quan trọng của Pigneau de Beshaine thì chữ quốc ngữ mới có diện mạo giống như hệ thống chữ Việt mà chúng ta đang dùng hiện nay.
Lê Trọng Túc – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 26 (191) 2001

Hiện tượng các con vật trên kiến trúc gia đình – Phần 2

Cùng thời gian trên, Đắk Lắk đã đón 38,542 lượt khách với thời gian lưu trú 52,277 ngày, công suất sử dụng buồng phòng đạt 52% các doanh nghiệp kinh doanh du lịch đã tiến hành lập dự án quy hoạch phát triển các điểm du lịch ở Buôn Đôn, cum thác Draysap – Gia Long – Trinh Nữ và chuẩn bị mở tour du lịch về nguồn tại hang đá Daktur thuộc xa Cupui huyện Krông bông.
Vở balê “Người đẹp ngủ trong rừng” ra mắt khán giả thủ đô
Vừa qua tại nhà hát lớn Hà Nội, Trung tâm Ngôn ngữ văn minh Pháp – Hà Nội kết hợp với Bộ VH – TT, Công ty Elicom, khách sạn Sumway, Nhà hát nhạc vũ khịch Việt Nam đã tổ chức cho các diễn viên múa của Trung tâm múa quốc gia Caen Pháp và đoàn múa Ekaterinbourg Nga trình diễn vở bale hiện đại “Người đẹp ngủ trong rừng” của nhà biên đạo múa lừng danh thế giới Karine Saporta Pháp dựa trên ý tưởng của Olev Petrov Giám đốc Đoàn múa Ekaterinbourg và nhạc nền của Tchaikovski. Vượt qua khỏi sự gò bó và mặc cho trí tưởng tượng tha hồ bay bổng, sức mạnh và tính độc đáo trong vở diễn chính là sự hòa trộn một cách duyên dáng và táo bạo giữa múa cổ điển và múa đương đại, Karine Saporta đã chính thức một tác phẩm ngủ quên từ một thế kỷ để làm cho nó sống động theo thời thượng. Cô khẳng định: “Thật lý thú khi dựng một vở múa đương đại trong một nền nhạc thiết kế cho một vở bale. Đổi mới tác phẩm vào mỗi thế kỷ cúng quan trọng, điều đó cho phép tái tạo lại di sản”. Được biết vào ngày 08/06/2001. Đoàn sẽ diễn một buổi tại TP. Hồ Chí Minh, sau đó lưu diện ở Phnom Penh, Jakarta và Băngkok.
Phát triển 6 pho tượng cổ ở Bắc Ninh.
Vừa qua, trong khi đang trùng tu, sửa chữa, nhân dân địa phương đã phát hiện ở dưới móng chân tường của chùa Cẩm Giang thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có chôn 6 pho tượng bằng đồng gồm: “Tam thế”, 1 pho tượng “A di đà đứng trên toà sen”, 1 pho tượng “Thích ca nhập niết bàn”, 1 pho tượng “Thích ca sơ dinh”. Theo đánh gia ban đầu của cơ quan chuyên môn thì 6 pho tượng trên có niên đại khoảng nữa thế kỷ 18 – 19. Các pho tượng nói trên đều nhỏ, nhất là pho tượng “Thích ca sơ sinh” cũng chỉ 40 cm, nặng 9,8 kg.
Saigontourist mở văn phòng đại diện tại nước ngoài.
Tổng công ty du lịch Sài Gòn đã đăng ký phối hợp đối tác nước ngoài mở rộng các văn phòng đại diện tại nước ngoài, trước mắt là tại hai thị trường Mỹ và Canada. Dự kiến hoạt động chính của Tổng công ty tại các thị trường này là xoay quanh lĩnh vực nhà hnàg, lữ hành và tiếp thị du lịch. Trong thời gian vừa qua, Saigontourist cũng đã tiến hành đẩy mạnh công tác quảng bá, tiếp thị tại các thị trường trọng điểm thông qua các hoạt động hội chợ, lễ hội, liên kết mở nhà hành tại Đức, Nhật, Pháp… sắp tới Saigontourist tham gia các kỳ lễ văn hoá du lịch Việt Nam tại Úc, Trung Quốc, Bỉ.
Mở lớp bồi dưỡng kiến thức cho các hướng dẫn viên ở các tỉnh phía Nam.
Vừa qua tổng cục du lịch Việt Nam, Sở du lịch thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Trường đại học KHXH&NV Hà Nội đã khai giảng lớp bồi dưỡng hiến thức và nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch. Tham gia lớp học có 80 học viên là các hướng dẫn viên du lịch, cán bộ hoạt động lữ hàng quốc tế có thời gian công tác 24 tháng trở lên thuộc các địa phương từ Đồng Nai đến Kiên Giang. Đây là lớp bồi dưỡng thứ 3 sau hai lớp được tổ chức ở Hà Nội ngày 7/5/2001 và Đà Nẵng ngày 15/5/2001.
Lớp học kéo dài đến ngày 31/6/2001 do tiến sĩ, thạc sĩ, giảng viên của Trường Đại học KHXH&NV giảng dạy và kiểm tra chuyên môn.
Đựoc biết, sau khi bế giảng các lớp học nói trên, học viên sẽ được cấp chứng chỉ và trên cơ sơ đó Tổng cục du lịch sẽ xét và cấp thẻ hành nghề hướng dẫn viên du lịch.
Đính chính
Trên trang 6, số báo 22 ra ngày 1.6.2001, do sơ xuất, tòa soạn đã đăng nhầm ảnh ông Đoàn Bá Nhiên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn ở bài “Khai thác thị trường du lịch bên biên giới Việt Trung” và chú thích là ông Lương Đăng Ninh. Báo du lịch thành thật xin lỗi hai ông và bạn đọc.
Quỳnh Hoa – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Hiện tượng các con vật trên kiến trúc gia đình – Phần 1

Hiện tượng các con vật trên kiến trúc gia đình , chùa, miếu mạo mang ý nghĩa gì.
Chuyên mục sổ tay hướng dẫn viên du lịch kỳ này xin được tiếp tục giới thiệu với các bạn ý nghĩa hình tượng của 3 con vật rùa, phượng, hạc, thường có trên công trình kiến trúc đình, chùa, miếu mạo Việt Nam.
Hình tượng con rùa: Về mặt sinh học, rùa là loại bọ sát lưỡng tính cứ có độ tuổi thọ cao và thân hình vững chắc. Nó có thể nhịn ăn uống mà vẫn sống trong thời gian dài. Rùa không ăn nhiều, nhịn đói tốt nên nó được coi là một vật thanh cao, thoát tục. Trên bàn thờ của các đền chùa, miếu mạo, chúng ta thường thấy rùa đội hạc, rùa đi với hạc trong bộ đỉnh thơm ngát vàt thanh lịch.
Rùa tượng trưng cho sự trường tồn và bất diệt. Hình ảnh rùa đội bi đá, trên bia mộ ghi lại sử sách của dân tộc Việt Nam chứng tỏ rùa là loại vật chuyển tải thông tin văn hóa. Tuy không phải là con vật của Phật giáo, nhưng rùa cũng là biểu trưng cho sự trường tồn của Phật giáo. Trong một số ngôi chùa thời Lý – Trần, rùa được chạm thành tường bằng đá làm bệ đội bia. Dáng rùa đầu to, mập, vươn ra khỏi mai, mõm thuôn nhọn. mắt nhỏ, bốn chận khép sát vào thân mai. 82 tấm bia đã ghi tên tiến sĩ đỗ đạt được đặt tên trên lưng rùa, một con vật biểu tượng sự trường tồn, hiện còn lưu giữ tại Văn Miếu – Quốc Tự Giám, Hà Nội là bằng chứng hùng hồn biểu hiện nền văn hiến bất diệt của dân tộc Việt Nam.
Hình tượng chim phượng: Phượng là linh vật được biểu hiện cho tầng trên. Phượng thường có mỏ vẹt, thân chim, cổ rắn, đuôi công, móng chim cứng đứng trên hồ sen. Với ý nghĩa đầu đội công lý, .ắt là mặt trời, mặt trăng, lưng cõng bầu trời, lông là cây cỏ, cánh là gió, đuôi là tinh tú, chân là đất, vì thế phượng tượng trưng cho tất cả vũ trụ. Khi phượng ngậm lá đề hoặc ngậm cành hoa đứng trên đài sen, nó biểu tượng là con chim của đức Phật. Tức là có khả năng giảng về đạo pháp, làm nhiệm vụ giống như các nữ thần chim: nhảy, múa, hát ca chào mừng Phật pháp.
Quan niệm của người Việt Nam cho rằng phượng xuất hiện báo hiệu đất nước được thái bình. Chim phượng là loài chim đẹp nhất trong 360 loài chim. Nó có thân hình quyến rũ, kết tinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, thanh lịch, vẻ duyên dáng của tất cả các loài chim. Chim phượng còn tượng trưng cho nữ tính, cho phái đẹp của tầng lớp qúy phái.
Hình tượng con hạc: Ở Việt Nam hạc là con vật của đạo giáo. Hình tượng hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu…, hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện sự hài hòa của đất và trời, giữa hai thái cửa âm và cửa dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh túy và thanh cao. Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn rất thân nhau. Rùa là tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, hạc là tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến cùng nước. Điều này nói lên lòng chung thủy và sự tương trợ giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.
Đắk Lắk doanh thu từ du lịch tăng 21%
5 tháng đầu năm 2001, doanh thu từ du lịch của Đắk Lắk đạt 17,6 tỷ đồng, bằng 55% kế hoạch năm và tăng 21% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có doanh nghiệp thuộc ngành du lịch thực hiện gần 12 tỷ đồng, đạt 43% kế hoạch năm, tăng 15% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 68% so với doanh thu du lịch trong tỉnh.
Quỳnh Hoa – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Cần gì nhất để cổ phần hóa?

Quá trình cổ phần hóa của Công ty Du lịch dịch vụ Hoàn Kiếm (thuộc Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm) diễn ra không dễ dàng gì khi mà con số thua lỗ của đơn vị trong các năm 1997 – 2001 là 3,2 tỷ đồng. Nếu không giải quyết được khoản nợ này thì việc cổ phần hóa xem như bế tắc. Nhưng giải quyết thế nào là cả một vấn đề.
Sau khi xem xét thực trạng của Công ty, Phòng Kinh tế quận Hoàn Kiếm cùng một số ngành chức năng đã đưa ra 2 hướng: Hoặc Công ty tuyên bố phá sản, giải thể, hoặc Ủy ban nhân dân thành phố cho phép Công ty chuyển quyền sử dụng địa điểm 72 – 74 Hàng Buồm (tức Nhà hàng Mỹ Kinh) để lấy tiền trang trải. Nhưng nếu để giải thể Công ty thì quả là một khó khăn quá lớn cho 200 lao động của đơn vị. Trước tình hình ấy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm đã chủ trì một cuộc hội nghị với nhiều ngành và “nhất trí cao với phương án cho phép Công ty Du lịch dịch vụ Hoàn Kiếm trả địa điểm 72 – 74 Hàng Buồm cho ngành nhà đất thuộc thành phố quản lý để nhận đền bù hỗ trợ xóa nợ của Công ty và tiến hành xong cổ phần hóa” (Công văn số 229/TB-UB ngày 19.3.2001). Đây là lời giải tình thế trong bài toán thua lỗ của Công ty bởi chỉ riêng phải trả tiền lãi cho số tiền lỗ đã là vài trăm triệu mỗi năm. Hơn nữa, theo lãnh đạo Công ty, lựa chọn Mỹ Kinh để chuyển nhượng bởi bên cạnh các điều kiện cho phép có đủ khoản tiền “trám” vào số thua lỗ thay cho việc phải chuyển nhượng vài cơ sở khác, thì còn có lý do là trong 3 năm qua, Mỹ Kinh đã thua lỗ 900 triệu đồng.
Thế nhưng, mới chỉ là chủ trương thôi mà việc chuyển nhượng Nhà hàng Mỹ Kinh đã vấp phải sự phản ứng của một số cán bộ, nhân viên đơn vị bởi họ sợ không có việc làm. Lo âu của họ là chính đáng bởi đó là sự sống còn của mỗi gia đình. Chúng tôi đã đem sự âu lo này ra trao đổi trong buổi làm việc với Giám đốc Công ty Trần Ngọc Huyền thì được ông khẳng định: Dù chuyển nhượng Mỹ Kinh hay cơ sở nào khác thì Công ty cũng có trách nhiệm bố trí số lao động thuộc đơn vị đó vào các địa điểm còn lại trong Công ty. Thậm chí, có điều kiện để cổ phần hóa, đời sống người lao động còn có khả năng được cải thiện.
Rõ ràng, vấn đề ở đây chỉ là có sự chưa thấu đáo lẫn nhau giữa người quản lý và người lao động. Nên chăng, Công ty tổ chức cuộc họp dân chủ, phân tích thực trạng của đơn vị và cùng mọi Cán bộ công nhân viên bàn bạc, tìm biện pháp hữu hiệu nhất để tháo gỡ khó khăn. Việc tuyên truyền, đả thông tư tưởng quen bao cấp đã như “thành trì” trong một bộ phận người lao động cũng là không thể thiếu để đẩy nhanh sự thay đổi trong Công ty.
Chúng tôi cho rằng, không cần bàn đến nữa trách nhiệm thua lỗ thuộc về ai khi “báo cáo tình hình hoạt động của Công ty” do Phòng Kinh tế quận đã chỉ rõ là do “năng lực quản lý kinh tế yếu kém”, mà trong lúc này, việc cấp thiết là đặt lợi ích của người lao động lên trên với mục tiêu cổ phần hóa Công ty. Nhưng điều có ý nghĩa mở đường cho việc cổ phần hóa là phải “giải mã” được khoản tiền hơn 3 tỷ kia. Trước hết, vấn đề này đòi hỏi sự nhất trí, đồng lòng trong tập thể Công ty mà quyền lợi của 200 con người phải được coi trọng hơn là lợi ích của thiểu số. Để doanh nghiệp tồn tại như mong muốn, việc chỉ đạo của quận Hoàn Kiếm là hết sức cần thiết trong việc chuyển nhượng một phần tài sản cố định của Công ty để xóa nợ. Sau khi đã ra thông báo số 229, lẽ ra, Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm phải có ý kiến để bảo vệ kết luận của cuộc họp liên ngành hoặc chủ trương thay đổi để Công ty “biết đường” xử lý. Đằng này, theo lãnh đạo Công ty Du lịch dịch vụ Hoàn Kiếm thì cấp trên không phản ứng gì trước các ý kiến nhiều chiều ở bên dưới khiến Công ty hết sức lúng túng.
Để doanh nghiệp tồn tại, bên cạnh vốn liếng cùng các điều kiện vật chất thì sự chỉ đạo mang ý nghĩa sống còn!
Cuộc đại cách mạng văn hóa
Năm 1967, khi cuộc đại cách mạng văn hóa bước vào cao trào thì Phổ Nghi tái phát bệnh ung thư phải vào nhập viện. Mặc dù được Thủ tướng Chu n Lai bảo vệ nhưng ông vẫn bị Hồng vệ binh đe dọa nên các cán bộ y tế trong bệnh viện không dám chăm sóc ông, bỏ mặc ông với những cơn đau quay quắt và thậm chí, không ai dọn cả khi ông đại tiểu tiện ra giường. Sự thăm nom của người vợ trẻ thoẳng hoặc rồi mất hẳn, để lại ông với nỗi khao khát được nhìn thấy bà lần cuối trong vô vọng.
Và người đến thăm không phải là người mà ông mong đợi. Bà là một trong các hầu thiếp mà ông đã bỏ rơi trong những năm tháng vinh hiển của cuộc đời. Bà Ngọc Cầm. Bà giận giữ bởi ông đã nhắc đến tên bà trong cuốn hồi ký của mình, mà theo bà, tức là đã lôi bà xuống bùn cùng ông… Rồi ông mất, trong đau đớn cả về thể chất lẫn tinh thần, trong sự cô đơn tận cùng vì khi ấy, chỉ có một người cháu ở bên chăm sóc…
Ngọc Thanh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(181)2001

Hội xuân Du lịch Văn hóa

Mười sự kiện tiêu biểu của ngành du lịch năm 2000, hội xuân Du lịch – Văn hóa Việt Nam năm 2000 diễn ra từ ngày 26/1 đến 2/2 tại Hà Nội, do Tổng cục Du lịch, Bộ Văn hóa – Thông tin và Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội phối hợp tổ chức. Đây là sự kiện mở đầu cho việc triển khai thực hiện nội dung tuyên truyền quảng bá du lịch và gắn hoạt động du lịch với các lễ hội văn hóa dân tộc. Tại đây, tính đa dạng phong phú của nền văn hóa truyền thống Việt Nam đã được thể hiện bằng nhiều thể loại mang đậm màu sắc đặc trưng của các dân tộc, địa phương. Đồng thời khẳng định đó là tiềm năng đặc trưng của du lịch Việt Nam.
Festival Huế 2000 diễn ra từ ngày 8 đến 19/ 4 đã thu hút hàng chục ngàn khách du lịch trong nước và quốc tế. Tổng cục Du lịch là thành viên chính của Ban tổ chức, cùng với sự tham gia trực tiếp của các đơn vị thuộc ngành du lịch Thừa – Thiên – Huế. Đây không chỉ là cuộc trình diễn quy mô lớn về nét đặc trưng của văn hóa Huế, mà còn là cuộc biểu dương những tinh hoa văn hóa dân tộc, một lễ hội văn hóa, du lịch mang tầm cỡ quốc tế. Festival Huế 2000 đồng thời là cơ hội tuyên truyền quảng bá của ngành Du lịch Việt Nam nói chung và Du lịch Thừa Thiên – huế nói riêng.
Ngày 30/ 3, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 07/ 2000/ CT – CP gửi các Bộ, ngành, các cấp chính quyền địa phương, nhằm tăng cường giữ gìn trật tự trị an và vệ sinh môi trường tại các điểm tham quan, du lịch. Quán triệt tinh thần chỉ thị các ngành, các địa phương, nhất là các địa phương có các di tích, thắng cảnh phục vụ khách du lịch tham quan, các trung tâm du lịch, các thành phố lớn… đã sắp xếp lại hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch tại địa bàn, chấn chỉnh các hoạt động sản xuất mua bán, trao đổi các mặt hàng phục vụ khách du lịch… Đã có sự phối hợp giữa các ngành, các cấp chính quyền khắc phục các tệ nạn xã hội tại các điểm, trung tâm du lịch, làm lành mạnh môi trường du lịch.
Lễ kỷ niệm 40 năm thành lập ngành Du lịch Việt Nam (9/7/1960 – 9/7/2000) được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 8 – 7. Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm, Trưởng ban chỉ đạo Nhà nước về Phát triển Du lịch đã tới dự và biểu dương những thành tựu của ngành Du lịch qua 40 năm xây dựng và trưởng thành. Nhân dịp này, Tổng cục Du lịch đã tổ chức Hội thi hướng dẫn viên Du lịch lần thứ nhất, gồm hơn 100 thí sinh từ các đơn vị, doanh nghiệp Du lịch trên cả nước tham dự; tổng kết phong trào thi đua toàn ngành năm 1999 cho 10 công ty lữ hành quốc tế và 10 khách sạn tiêu biểu trên cả nước.
Ngày 25 và 26/ 7, tại thành phố Đà Nẵng Chi hội P T Việt Nam đã tổ chức Đại hội thường niên lần thứ 6, kết thúc nhiệm kỳ 1998 – 2000. Tại Đại hội này, PATA Việt Nam đã khẳng định vai trò của mình trong việc phối hợp cùng Tổng cục Du lịch và các cơ quan liên tục thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền quảng bá du lịch, triển khai Chương trình hành động quốc gia về Du lịch. Đại hội đã bầu Ban chấp hành nhiệm kỳ mới gồm 15 thành viên, do Phó tổng cục trưởng TCDL Phạm Từ làm Chủ tịch.
Ngày 24/ 8, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 39/ 2000/ NĐ – CP về cơ sở lưu trú du lịch. Đây là văn bản pháp lý quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch, đồng thời nâng cao hiệu quả về quản lý Nhà nước đối với loại hình kinh doanh này. Nghị định này cụ thể hóa những quy định trong Pháp lệnh Du lịch về cơ sở lưu trú, tạo cơ sở pháp lý để chuẩn bị hóa chất lượng dịch vụ và ngành nghề kinh doanh.
Ngày 5 và 6/11, Đoàn cấp cao Bộ du lịch Tahis Lan do ông Adisain Bodharamik, Bộ trưởng văn phòng Thủ tướng, Chủ tịch cơ quan Du lịch quốc gia Thái Lan, dẫn đầu đã sang thăm và làm việc tại Việt Nam. Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng đã ký biên bản ghi nhớ phiên họp, mở ra nhiều vấn đề cùng quan tâm thực hiện, nhằm tăng cường hợp tác có hiệu quả về Du lịch giữa hai nước và với các nước khác trong khu vực.
Từ ngày 28/11 đến 1/12, Đoàn cấp cao Cục Du lịch quốc gia Trung Quốc do Phó Cục trưởng Tôn Cương dẫn đầu đã sang và làm việc tại Việt Nam. Phó Tổng cục trưởng Phạm Từ dẫn đầu đoàn cấp cao tổng cục du lịch Việt Nam đã tiếp và hội đàm với Đoàn. Hai bên đã thỏa thuận và ký biên bản ghi nhớ về Việt Nam – Điểm đến của công dân Trung Quốc. Bản ghi nhớ gồm 9 vấn đề liên quan tới cả hai bên, nhằm nâng cao chất lượng phục vụ công dân Trung Quốc đi du lịch Việt Nam bằng tiền riêng của mình.
Ngày 8/ 12, tại cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài. Tổng cục Du lịch và Tổng công ty Hàng không Việt Nam đã tổ chức lễ đón khách du lịch quốc tế thứ 2 triệu đến Việt Nam trong năm 2000, hoàn thành chỉ tiêu đón 2 triệu khách quốc tế của toàn ngành Du lịch trong năm 2000. Vị khách thứ 2 triệu là cô Vilard Karine, quốc tịch Pháp, đến từ Paris theo tour của Công ty du lịch Thành phố Hồ Chí Minh thuộc tổng công ty Du lịch Thành phố Du lịch Sài Gòn. Tại lễ đón, Phó Tổng cục trưởng Phạm Từ đã phát biểu, đại ý: Năm 1994, du lịch Việt Nam đón khách quốc tế thứ 1 triệu, đến năm 2000, đón khách thứ 2 triệu. Nhưng không đợi đến 6 năm, chúng ta sẽ đón khách quốc tế thứ 3 triệu, 4 triệu.
Nguyễn Chất – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Vì sao chùa Quỳnh Lâm vẫn bị lấn chiếm

Chứng tích một ngôi chùa.chùa Quỳnh Lâm thuộc thị xã Tràng An, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Vào thế kỷ thứ 7, Định Khâm Trưởng Lão người làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức, am hiểu thế số, hành động đúng phép tắc, một thuyền sư nổi tiếng thời thuộc Đường trên đường đi tu hành đã dừng chân tại đây. Trước thế đất “tiền án hậu chẩm” mảnh đất đằng trước có thế án ngữ của núi và hai con sông Cẩm và song Đạm Thủy chắn những luồn khí độc hại vào trong chùa, đằng sau có núi là điểm tựa vững chắc, hai bê là thế chầu của vật linh như Long Ly Quy Phượng, chùa lọt vào ngai cao dần, Trưởng lão đã khởi công đắp chùa. Trong lúc dựng chùa, trưởng lão đào được một bác hương và 10 chiếc khánh. Chứng tích đây là mảnh đất đã được người xưa lựa chọn căng làm cho Định Khâm tin vào sự lựa chọn địa điểm là thiên thời địa lợi hợp nhất, địa nhân hòa hợp.
Đến Triều Lý, nơi đây được xếp hạng đại danh lam. Sau khi nhà sư Dương Không Lộ chữa khỏi bệnh cho vua Lý Thần Tông , đã về trụ trì chùa Quỳnh Lâm. Tại đây, ông đã đúc pho tượng Di Lặc bằng đồng, cao 20 m. Báu vật được coi là tứ đại khí của nước ta thời ấy. Vua Lý phong ông là Thông hiển đại nhân. Đồng thời ông cũng là vị tổ sư nghề đúc đồng của Việt Nam.
Sang thời Trần, nơi đây được coi là trường đào tạo tăng tài cả nước. Khi Trần Nhân Tông đi tu ở núi Yên Tử thường lui về chùa Quỳnh Lâm thuyết giảng đọa giáo cho tăng ni phật tử. Vua Trần Anh Tông lên ngôi đã trích ngân quý 83 lạng vàng để trùng tu chùa.
Thế kỷ 17, vua Lê Huy Tông bán mũ áo cà sa cho Chân Nguyên Thiền Sư đỗ tiến sĩ xây dựng lại với quy mô lớn, tổng công 103 gian bao gồm nhà điện phật, nhà hậu Phật, nhà tăng, nhà kho, tam quan, gác chuông… đồng thời, đây là ngôi chùa mà chúa Trịnh Tráng cho xây dựng lại khi bị chiến trnh tàn phá.
Năm 1947, chùa Quỳnh Lâm bị giặt Pháp phá hủy hoàn toàn, di tích chứng cứ chỉ còn lại: tấm bia đá cao 2,46 m, rộng 1,53 m, chân cột đường kính 1,28 m, có hoa văn chạm trổ theo phong cách thời Lý, một số tháp Mộ các vị tổ sư thời Hậu Lê.
Năm 1991, Nhà nước công nhận chùa Quỳnh Lâm là di tích sử các quốc gia. Thế nhưng một di sản văn hóa quý hiếm như vậy hiện nay lại thuộc quyền sở hữu của một quốc gia đình?
Dân chiếm di tích, chính quyền làm ngơ.
Trong kháng chiến chống Pháp, khi chùa Quỳnh Lâm bị phá, nhân dân xung quanh liền chiếm diện tích đất để sản xuất. Đặc biệt là khu đất vườn tháp Tăng Thống Trúc Lâm rộng hơn 3 sào, nơi thờ các vị tổ sư đã bị một số gia đình biến thành nghĩa địa.
Năm 1994 do nhà chùa và đông đảo bà con phật tử kiến nghị, Ủy ban nhân dân huyện Đông Triều đã hỗ trợ hơn 1 triệu cho mỗi gia đình có mộ ở đó dời đi nơi khác đã trả lại đất cho di tích. Ngay sau khi khu mộ được dời đi, ông Nguyễn Văn Khoát đã chiếm được toàn bộ khu đất này để trồng trọt. Từ đó đến nay hòa thượng Thích Đạo Quang, trụ trì chùa Quỳnh Lâm, đã 6 lần gửi đơn kiến nghị tới UBND xã và huyện yêu cầu can thiệp để trả lại đất để bồi thường cho dân. Dư luận không hiểu vì sao Ủy ban nhân dân xã lại phải đền bù cho một số cá nhân lấn chiếm đất trái phép? Qua tìm hiểu, được biết Nguyễn Văn Khoát làm em vợ ông Phạm Văn Viện Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tràng An. Phải chăng, chủ tịch xã đã dung túng cho người thân ngang nhiên lấn chiếm đất di tích? Việc làm này đã gây bất bình cho nhân dân, nhất là những gia đình phải chuyển mộ để trả lại đất cho chùa Quỳnh Lâm.
Trong lá đơn gửi tòa soạn báo du lịch, trụ trì chùa Thích Đạo Quang viết: pháp nguyện của nhà chùa cũng như đông đảo bà con phật tử còn là xây dựng lại ngôi chùa để lưu truyền muôn đời cho con cháu. Nhưng chỉ vì một cá nhân mà quyền lợi bao người bị ảnh hưởng. Rất mong quý báo lên tiếng ủng hộ để công việc được giải quyết tốt đẹp trong nhiệm kỳ mới của chính quyền xã.
Thế nhưng, đã gần 2 năm của nhiệm kỳ mới rồi mà Ủy ban nhân dân xã vẫn bất lực trước hiện tượng cá nhân lấn chiếm đất di tích. Phải chăng đây là sự thờ ơ của các vị lãnh đạo địa phương đối với việc bảo tồn giá trị văn hóa của quốc gia hay là do những lý do tế nhị nào đó. Đã đến lúc các cấp chính quyền của tỉnh Quảng Ninh phải xem xét lại cách quản lý của mình về việc làm đi ngược lòng người và chủ trương bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc.
Một ngôi chùa được xây dựng vào thế kỷ thứ 7, được xếp vào hạng danh lam thắng cảnh nổi tiếng, được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia lại bị một hộ dân lấn chiếm mà chính quyền xã không xử lý được. Đâu là nguyên nhân của sự bất lực này.
Kính báo Kể từ ngày 10.6.2001, báo du lịch chuyển địa điểm về 16 A Nguyễn Công Trứ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Mọi thư từ, bài vở, giao dịch theo địa chỉ mới. Riêng các số điện thoại, FAX thay đổi sẽ thông báo sau.
Phương Thúy – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Chị lương lệ quân

(Khách du lịch Trung Quốc)
Đoàn của chị có vẻ đông nhỉ!
Các chị đi theo Công ty nào vậy?
Đoàn của tôi gồm có 46 khách du lịch, đi theo Công ty Du lịch Đông Hưng của tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc đến Móng Cái, Quảng Ninh và Hà Nội.
Theo tôi biết, hàng hóa tiêu dùng của Trung Quốc giá rất rẻ, đồ ăn và lưu niệm cũng phong phú. Vậy các chị sẽ mua mặt hàng gì của Việt Nam để làm quà và đặc biệt là chị thích loại hàng gì?
Người Trung Quốc, và đặc biệt những người sống ở các tỉnh vùng biển chúng tôi thường thích mua vòng ngọc, nước hoa của các bạn có nhiều ở Bãi Cháy, Hòn Gai (Quảng Ninh). Ngoài ra là các loại giầy dép cao su, bánh đậu xanh, rượu Henesy và tượng phật gỗ, lược sừng vì bên Trung Quốc loại này rất đắt. Nhưng đặc biệt, chúng tôi rất thích sưu tầm tem của Việt Nam. Mặt hàng này cũng có sẵn ở Móng Cái. Mỗi người trong đoàn đều mua từ 1 – 2 tập. Giá khoảng 120 tệ, có người mặc cả xuống 100 tệ.
Loại tem nào được các chị chú ý hơn?
Tập tem cài 209 con tem rất đa dạng, chuyên đề về các con giống, như khủng long, ngựa vằn, hà mã, voi, khỉ lông vàng, sóc, rắn, kim tê, rùa, ếch, mèo, chó, bướm và các loại chim. Ngoài ra, còn có các tem đề tài về các loại hoa hồng, hoa đỗ quyên, thuyền buồm, các loại đá quy, tranh sơn dầu về các nhân vật nổi tiếng… Lại còn có 4 tờ tem và 2 bộ 24 con tem về 12 con giáp. Tem của Việt Nam in rất tinh tế, đẹp, có điều giấy in chất lượng hơi kém.
Bên Trung Quốc ít bán tem sao? Hay là giá đắt quá?
Không hiểu sao ở Đông Hưng chúng tôi không thấy bán tem. Ngay cả ở thành phố du lịch như Quế Lâm, ở các cửa hàng văn hóa phẩm hay khách sạn cũng không thấy bán tem chơi Trung Quốc. Đây cũng có thể là một cơ hội cho các bạn nên phát triển loại hàng này. Thị xã Móng Cái và Bưu điện Quảng Ninh của các bạn rất nhạy bén. Nếu như Công ty Tem và Hội Tem Việt Nam biết đầu tư và tạo điều kiện cho tất cả các vùng du lịch trong nước, đặc biệt là các tỉnh vùng biên thì đây chính là một nguồn hàng thu lợi không nhỏ.
Xin cảm ơn chị.
Thị xã sầm sơn triển khai kế hoạch tổ chức hoạt động du lịch
Để việc tổ chức hoạt động du lịch hè 2001 được tốt, Ủy ban nhân dân thị xã Sầm Sơn đã triển khai các chương trình cụ thể: Tăng cường công tác qui hoạch – xây dựng, hoàn thiện qui hoạch hàng quán kinh doanh, xử lý các hộ xây dựng sai qui hoạch; Đẩy mạnh tuyên truyền quảng cáo và tổ chức hoạt động văn hóa – thể thao suốt mùa du lịch, giới thiệu tiềm năng du lịch Sầm Sơn. Vấn đề an ninh trật tự, bảo hiểm tắm biển và vệ sinh môi trường được chú trọng.
Đặc biệt, Ủy ban nhân dân thị xã còn ban hành quy định cụ thể: Các mặt hàng kinh doanh phải niêm yết theo giá khung, giá trần đã được Ủy ban nhân dân thị xã quy định, không được bán hàng rong tại bãi biển, không bán vé du lịch tại khu di tích đền Độc Cước, hòn Trống Mái, chùa Cô Tiên từ 30/4 đến 30/9/2001; Nghiêm cấm việc rút thẻ, bán thẻ, xem bói, nài ép du khách…
Khách du lịch đến sầm sơn hè 2001 cần biết?
Vé bảo hiểm du lịch có 2 loại: 10.000 đồng/người đối với khách nghỉ lại (thu tại khách sạn, nhà nghỉ) và 2.000 đồng/người đối với khách không nghỉ lại.
Khách du lịch không phải mua vé du lịch tại các khu di tích ở Sầm Sơn (như đền Độc Cước, chùa Cô Tiên) từ 30/4 – 30/9/2001.
Khách chỉ trả tiền theo đúng giá niêm yết đã được Ủy ban nhân dân thị xã Sầm Sơn quy định khung giá trần như:
Giá ảnh: 5.000 đồng/kiểu 9×15.
Giá thuê ghế: 2.000 đồng/giờ (ghế đôi) 1.000 đồng/giờ (ghế một).
(Chỉ khách thuê ngồi nghỉ, nếu sử dụng dịch vụ như ăn, uống thì không phải trả tiền ghế).
Giá thuê phao bơi: 2.000 đồng/giờ.
Tắm nước ngọt: 2.000 đồng/lượt khách.
Giá giữ xe: 10.000 đồng/xe ô tô; 2.000 đồng/xe máy.
Giá đồ uống: 2.000 đồng/1 cốc nước dừa. 3.000 đồng/ly cà phê, 7.000 đồng/lon Halida, 10.000 đồng/chai bia tiger…
Khu vực Hòn Trống Mái và chùa Cô Tiên các điểm đỗ xe ôtô chỉ phải trả tiền vé 1 lần (15.000 đồng/vé).
Thông qua lộ trình giảm giá đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Sáng ngày 3/5/2001, Ban Vật giá Chính phủ làm việc với một số ngành: Bưu chính – Viễn thông, Điện lực, Hàng không… để thông qua lộ trình giảm giá đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, giai đoạn 2001 – 2005.
Theo đó, năm 2001, ngành bưu điện sẽ giảm 15% giá cước viễn thông quốc tế chiều gọi đi từ Việt Nam; ngành điện lực sẽ tăng giá điện sinh hoạt và sản xuất lên 700 đồng/KV/h nhưng chỉ áp dụng đối với người tiêu dùng trong nước, nhằm tạo mặt bằng chung với các doanh nghiệp nước ngoài; ngành hàng không sẽ tăng giá vé máy bay đi Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh lên 1.300.000 đ/chuyến (một chiều) trong tháng 5/2001 và đến năm 2003 sẽ là 1.500.000 đồng/chuyến.
Bản lộ trình này cũng sẽ được các bộ, ngành xem xét, sau đó sẽ trình lên Chính phủ. Nếu được Chính phủ thông qua thì đây sẽ là một bước đột phá mới nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có vốn nước ngoài đang làm ăn tại Việt Nam.
Thúy Bình – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 19(181)2001

Tìm của ra cho nước quả Việt Nam

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hiền Bộ môn rau quả – Viện nghiên cứu rau quả, Bộ VV&PT – NT, nói với chúng tô: “Ở Mát – xcơ – va (Nga), một lít nước quả giá khoảng 1 USD, còn ở Việt Nam thì giá cao hơn nhiều”. Giảm giá thành là bài toán mà ngành chế biến nước quả luộc phải giải khi tìm cửa ra cho sản phẩm nước mình.
Ngành sản xuất khó tính.
Theo bà Hiền, hoa quả của Việt Nam có chất lượng tốt ở cả hai yếu tố màu sắc và hương vị, nhất là quả miền Bắc. Tuy nhiên, đây là một ngành sản xuất đòihỏi khắc khe về công nghệ vì sản phẩm này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, thậm chí mạng của người tiêu dùng. Những công nghệ tầm tầm không thể cho ra những sản phẩm đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép. Làm thủ công lại càng không chấp nhận được.
Một điều khó nữa là vấn đề bao bì; phải gọn nhẹ, không độc, không gây hại đến môi trường. Sản xuất bap bì bằng hợp kim, giá thành sẽ rất cao. Chất liệu thủy tinh cũng không phù hợp vì đặc điểm của nước quả có hai thành phần: Phần thịt và phần nước quả. Đựng bằng chai thủy tinh có thể gây biến màu đối với một số loại quả, đồng thời cũng không đảm bảo về phần mỹ thuật. Giải pháp tối ưu hiện nay là sử dụng loại hộp giấy dung được trong khoảng thời gian từ 6- 9 tháng. Tuy nhiên, công nghệ này cũng mới có ở một ít cơ sở như Vinamilk, Dona Newtown, Wonderfarm…
Chất lượng quả không đều mấy cũng là nguyên nhân đẩy gí thành nước quả lên cao. Ví dụ, quả cam đạt tiêu chuẩn bảo đảm ít xơ, hàm lượng đường. Nhưng khí ít chất lượng trái cây không đồng đều, cụ thể như về lượng đường thiếu, nhà sản xuất buộc phải bổ sung thêm đường kính.
Một nghịch lý đang tồn tại: chất lượng và thấp nhưng nguyên liệu đầu vào để sản xuất nước hoa quả ở Việt Nam lại đắt hơn các nước trong vùng. Một kg dứa nguyên liệu ở Thái Lan giá tương đường 400 VNĐ trong khi đó ở Việt Nam lại đắt gấp 3 lần! Đây chính là cái vòng luẩn quẩn trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta: năng suất thấp, chi phí cao, do vậy nông dân muốn bán sản phẩm của mình với giá càng cao càng tốt, nhằm bù đắp chi phí bỏ ra. Kết quả là cả hai bên cả bên sản xuất nguyên liệu lẫn bên chế biến đều ôm chân nhau. Sản phẩm làm ra không tiêu thụ được vì giá thành cộng thêm nhiều gánh nặng khác như chi phí vận chuyển, thuế… Giá cao hơn hàng ngoại mà chất lượng chưa chắc đã hơn thì đừng vội nói đến xuất khẩu, ngay cả thị trường trong nước với 80 triệu dân một con số không hề nhỏ, nhưng 2/3 là nông dân, có thu nhập thấp, rõ ràng uống nước lã đun sôi vẫn chưa chết ai.
Giảm giá thành cửa ra duy nhất?
Theo ông Nguyễn Công Hoan, Trưởng bộ môn Chế biến thực phẩm viện công nghệ sau thu hoạch – Bộ NN&PT – NT, giải pháp quan trọng nhất là phải bằng mọi cách hạ giá thành sản phẩm. Hiện nay, một số nhà máy, máy móc từ những năm 60 vẫn đang được sử dụng. Công nghệ hiện đại chỉ có ở một số ít công ty như Liên doanh Dona Newtown giữa nhà máy thực phẩm xuất khẩu Đồng Nai với Hồng Kông), Wonderfarm, A&B… Tuy nhiên, Ông Nguyễn Công Hoan cho rằng, công nghệ trong nước có thể thay thế dây chuyền ngoại nhập, chất lượng sản phẩm không thua kém mà giá thành rẻ hơn nhiều. Bên cạnh đó các cơ sở chế biến cần tăng cường ký hợp đồng trực tiếp với nhà vườn nhằm giảm bớt chi phí trung gian vàt ạo thuận lợi trong việc kiểm soát chất lượng quả cây. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở chế biến và địa phương nhằm chủ động quy hoạch vùng nhiên liệu, nâng cao chất lượng giống, áp dụng những kỹ thuật canh tác tiên tiến vào sản xuất.
Với một thị trường quốc nội 80 triệu dân, lại khá phong phú về nguyên liệu mà ngành sản xuất nước quả vẫn mãi xập xệ thì quả là điều khó chấp nhận.
Những phát hiện và phát minh của loài người từ năm 1920 đến năm 1949
Năm 1920: ở nước Anh và Hoa Kỳ đã lập các trạm phát sóng radio và các gia đình có máy thu có thể bắt được dễ dàng lời nói của các phát thanh viên. Năm 1921 nước Pháp tổ chức truyền một buổi dạ hội ca nhạc phát đi từ tháp Ép – fen.
Năm 1920 các máy lạnh máy sấy tóc, máy trộn thức ăn gia súc ra đời.
Năm 1921: Tomat Mitglay có sáng kiến pha chì vào xăng và mãi tới ngày nay người ta mới phát hiện thấy hiện tượng ô nhiễm môi trường do sáng kiến này gây ra.
Năm 1923: ra đời chiếc máy thu thanh chạy đèn và có tăng loa kèn.
Năm 1927: lần đầu tiên xuất hiện phim lồng tiếng.
Năm 1930: ra đời trạm truyền hình vào những năm của thập kỷ 30 nhờ sự phát minh của Camera điện tử.
Năm 1935: máy rađa đầu tiên ra đời. Máy có thể dò tìm thấy các máy bay, phát hiện các tàu thủy ở bất cứ thời tiết nào kể cả ban ngày lẫn ban đêm. Năm 1939: nước Anh có một hệ thống rađa rất lợi hại để phát hiện ra kẻ thù.
Công nghệ chất dẻo cũng phát triển vào những năm của thập kỷ 30. Sợi nilông ttổng hợp được sáng chế voà năm 1931 và vải nilông thay cho lụa thiên nhiên.
Năm 1941: động cơ phản lực ra đời. Máy bay phản lực có tốc độ nhanh hơn nhiều lần so với máy bay cánh quạt.
Năm 1938: bút bi xuất hiện và ngày nay loại bút này được sử dụng trên toàn thế giới.
Năm 1939: chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra vào thánh 9. Những tiến bộ khoa học được sử dụng vào chiến tranh đã gây nên những thiệt hại vô cùng to lớn về người và của. Vũ khí huỷ diệt hàng loạt xuất hiện.
Năm 1941: tên lửa V2 của phát xít Đức tấn công vào thủ đô Luân Đôn của Anh.
Năm 1945: hai quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống thành phố của Nhật Bản.
Năm 1946: chiếc máy phát điện ra đời nặng tới 30 tán và phải dung tới hai phòng rộng mới chứa máy hết. Ngày nay nhờ có công nghệ vi mạch những chiếc máy điện toán được thu nhỏ lại như máy vi tính… với trọng lượng dưới 10 kg.
Hạ Hoà – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 221 (186) 2001

Những vùng đất nguy hiểm ven sông

Khúc sông bên lở bên bồi
Đất ven sông bị lở là do một số hiện tượng tự nhiên và thường xảy ra ở mọi con sông. Có thể kể ra một số ví dụ: sông Mitsisipi (Hoa Kỳ) đã biết bao lần lở bờ, cuốn trôi theo nhiều làng mạc, đồn điền, thành phố, bến lầu. Hiện tượng lở ở bờ sông Hồng là nguyên nhân khiến cho thương cảng Phố Hiến vốn phồn vinh từ cuối thế kỷ 16 – đến đầu thế kỷ 18, đến nay bị xóa sạch, hầu như không còn vết tích, trong khi đó cùng thời là thương cảng Hội An nây vẫn tồn tại. Ở miền Trung nước ta, sông Lam chảy qua Nghệ An đã phá hủy hết thành quách Bình Ngô do Lê Lợi xây dựng vào đầu thế kỷ thứ 15. Thành Tương Dương hay còn gọi là Nam Sơn ở huyện Nam Đàn cũng bị sông Lam phá hủy gần hết, nay chỉ còn ít bia đá và vài đoạn thành cổ.
Đặc biệt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, nạn lở đất ở hai bên bờ sông Tiền, sông Hậu liên tục xảy ra gây thiệt hại nặng nề về người và của. Cách đây vài năm, bến phà Hậu Giang đã bị xóa sổ hoàn toàn do nạn sụt lở đất. Ngày 4-2-1992, hồi 9 giờ sáng, một nạn sụt lỡ đất rông tới 500 mét vuông trên đó có tòa nhà cao tầng của Hội đồng nhân dân huyện Hồng Ngự (Đồng Tháp) bị kéo xuống dòng nước sâu 45m. Hiện tượng xảy ra trong khoảng khắc khiến 6 cán bộ trong đó có ông Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân bị thiệt mạng. Cùng thời gian này, bên hữu ngạn sông Tiền, chợ Tân Châu thuộc tỉnh An Giang cũng bị lở dần qua mỗi mùa lũ và đến nay chợ Tân Châu bị vùi xuống lòng sông, không còn một vết tích. Có thể kể thêm: vài năm trước, ta trục vớt được ở thành phố Hồ Chí Minh hơn 10 khẩu đại bác hạng nặng của Pháp bị lở đất bất ngờ lăn xuống sông từ cuối thế kỷ 19.
Trong vài thập kỷ trở lại đây, hiện tượng sụt lở đất ven sông có xu hướng gia tăng do hiện tượng phá rừng ngày càng trầm trọng. Trên các đỉnh núi và sườn núi mất rừng, nước mưa nhanh chóng tập trung thành lũ lớn và có sức tàn phá hoạt động làm sụt lở lớn hơn khi lưu vực còn rừng che phủ.
Tuy nhiên, không phải cứ vùng đất nào cũng bị sụt lở. Trong thực tế ở một khác sông thì đối diện với bờ lở là bờ được bòi. Vì vậy mà từ lâu đời, nhân dân ta đã đúc kết thành quy luật “Khúc sông bên lở bên bồi”.
Đâu là vùng đất nguy hiểm bên sông?
Quy luật khúc sông bên lở bên bồi được sinh ra trong sự hoạt động của các khúc uốn lòng sông. Sông uốn khúc là một hiện tượng tự nhiên. Ngay ở những con sông đào, lúc đào thẳng, nhưng về sau nó vẫn uốn khúc. Các nhà khoa học đã giải thích về nguyên nhân uốn khúc của dòng sông là do sự tự quay của trái đất và từ khi sinh ra lực Coriôlít. Lực này làm cho các dòng khí, dòng nước khi lưu chuyển bị lệch hướng về bên phải ở Bắc bán cầu và lệch sang trái ở Nam bán cầu. Tuy nhiên khúc uốn dòng sông lại phát triển theo những quy luật riêng của nó. Lòng sông rộng 30 m thì bán kính khúc uốn có thể gấp 16 lần lòng sông. Sông càng rộng thì tỷ lệ đó càng thu hẹp. Sông càng rộng đến 300 m thì tỷ lệ đó là 12 lần. Khoảng đất giữa ở hai bề tuyến với bờ lõm (bờ lở) của sông gọi là lòng của khúc uốn. Khoảng đất này nằm trong phạm vi hoạt động của khúc uốn và coi là những vùng đất nguy hiểm ven sông. Các đô thị, bến cảng, thành quách, làng mạc xây dựng trong phạm vi lòng khúc uốn thì trước sau sẽ bị dòng nước cuốn đi theo quy luật.
Ninh Nguyên thẩm mỹ viện đón chào thiên niên kỷ mới.
106 phố Sơn Tây – quận Ba Đình – Hà Nội
Tel: 7334600 – Mobiphone: 090448727
Lần đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam đã có thẩm mỹ làm đẹp bằng các bài thuốc thảo dược cổ phần Trung Hoa từ xa xưa đó là:
Ninh Nguyên thẩm mỹ viện
Chuyên thay da: nám, tàn nhang, trứng cá, da đen, da lão hoá, khít lỗ chân long, tái tạo làng da mới trắng hồng trong 10 ngày hiệu quả hơn cả sự mong đợi và giữ được lâu bền mãi bằng bài thảo dựơc cổ truyền Trung Hoa không dung hoá chất, vệ sinh an toàn tuyệt đối.
Massage mặt: trị mụn cám, mụn bọc, mụn thâm bằng phương pháp lăn ống tre, đắp Maks đặc biệt làm da trắng mịn ngay sau 90 phút.
Đặc biệt chống nhăn: Mắt, trán… tâm quàng mắt, túi mỡ mí mắt, kết quả thấy sau lần đầu (1 liệu trình 10 ngày). Bạn sẽ thấy ngạc nhiên về độ láng mịn của làng da quanh mắt, màu da sáng trẻ lại và dồi dào sức sống.
Massage vi tính chỉnh hình toàn thân: Làm bụng nhỏ bằng bài thuốc dân gian sau 10 lần giảm 7 ngày 15 cm. Làm ngực nở, eo thon, đùi thon, cằm, vai giảm mập, bắp tay suôn, nâng mông cao.
Triệt long: vĩnh viễn, làm dài lông mi, lông mày, tẩy sẹo lỗi lõm, ve mắt, tổ đỉa, hạt cơm, xóa nốt ruồi, trị nấm, trị lang ben, u nang lông, u gai, u mỡ…
Tắm trắng cao cấp: bằng phương phắp ướp mật tinh hoa thiên nhiên, hiệu quả – trắng mịn, không ăn nắng, không ngứa. Chỉ một lần da đã trắng ngay
Massage chân: giảm bớt đau mỏi cho lưng, chân, khớp, hôi chân, phong thấp, cân bằng nội tiết, thúc đẩy hoàn cầu máu và quá trình TĐC. Đặc biệt tỉnh rượu ngay với người đang say.
Đặc biệt giảm giá không cần uống thuốc gầy (thuốc ốm).
Ninh Nguyên thẩm mỹ viện với nhiều năm kinh nghiệm tích lữ từ CHLB Đức và Trung Hoa sẽ giúp khách hàng hài lòng yên tâm làm đẹp cho bạn và mọi người.
Trẻ hơn – đẹp hơn – quý phái hơn.
Lê Vân – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Hành trình xuyên việt “trở về con đường huyền thoại”

Đó là hành trình du lịch dài gần 6.000 km, đưa du khách trở lại với nhiều tuyến, điểm của đường mòn Hồ Chí Minh, do Công ty Thương mại Du lịch Thanh niên Hà Nội tổ chức. Du khách tham gia hành trình đặc biệt này là những cựu cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng thanh niên xung phong từng tham gia mở đường Trường Sơn năm xưa, hoặc đã từng chiến đấu, phục vụ chiến đấu trên con đường này.
Chuyến đi dự kiến sẽ xuất phát vào ngày 19/5/2001 tại Hà Nội. Trong thời gian 15 ngày, đêm, đoàn sẽ di chuyển dọc theo Quốc lộ 1 (điểm cuối là Thành phố Hồ Chí Minh) thăm các danh lam thắng cảnh của đất nước rồi đến với đường mòn Hồ Chí Minh. Tại các điểm dừng, du khách sẽ có những buổi gặp gỡ, giao lưu với các cựu cán bộ, chiến sĩ thanh niên xung phong địa phương và lực lượng đang xây dựng đường Hồ Chí Minh hiện nay.
Tin vắn
Trong các ngày từ 4 đến 11/4/2001, tại Malaysia, đại diện ngành Du lịch Việt Nam đã tham dự phiên họp nhóm công tác du lịch lần thứ 18 và diễn đàn APEC (diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương). Phiên họp tập trung thảo luận tiến độ triển khai kế hoạch hành động trong APEC, theo tinh thần 4 mục tiêu về chính sách của Hiến chương du lịch APEC đã được thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng Du lịch APEC tại Seoul tháng 7/2000; rà soát kế hoạch hành động riêng lẻ của các thành viên; dự báo triển vọng phát triển du lịch khu vực.
Đoàn Việt Nam còn tham gia hội thảo du lịch với chủ đề: “Tăng cường hợp tác xúc tiến du lịch APEC”; tranh thủ gặp gỡ, tiếp xúc với đại diện các cơ quan du lịch quốc gia như Brunei, Australia, New Zealand, Singapore và Thái Lan để tìm hiểu khả năng hợp tác và tăng cường mối quan hệ song phương.
Trong hai ngày 16 và 17/5/2001, tại Hà Nội, Việt Nam sẽ đăng cai phiên họp lần thứ 4 nhóm Công tác đặc biệt ASEAN về đàm phán thương mại dịch vụ du lịch.
Phiên họp sẽ bàn một số nội dung liên quan đến lịch trình cam kết dịch vụ du lịch của các nước thành viên, chương trình hợp tác, hướng tự do hóa thương mại du lịch, trao đổi kinh nghiệm, rà soát tiến trình thực hiện chương trình hành động Hà Nội… Tham dự phiên họp sẽ có đại diện (nhóm công tác) của 10 nước thành viên và Ban thư ký ASEAN. Thái Lan là Chủ tịch đương nhiệm của nhóm công tác sẽ chủ tọa phiên họp.
Năm 2001, khách du lịch Israel đến Việt Nam sẽ tăng gấp 3 lần so với năm 2000. Đó là con số mong đợi của Đại sứ Israel tại Việt Nam Walid Mansour. Ông cho biết, năm 2000 có 1.080 khách du lịch Israel đến thăm Việt Nam. Con số đó rất nhỏ so với lượng khách đến từ các quốc gia khác. Nguyên nhân chủ yếu do những thông tin giới thiệu về đất nước, con người Việt Nam tại Israel hiện nay còn đang rất thiếu, nhất là những thông tin về cơ sở vật chất, khả năng dịch của Du lịch Việt Nam. Vấn đề này sẽ được khắc phục khi thiết lập được những cơ quan đại diện của Việt Nam tại Israel để thực hiện công tác tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch. Đại xứ W.Mansour hy vọng năm 2001 có khoảng 5.000 đến 7.000 người Israel sang thăm Việt Nam.
Ngày 20/4/2001 tại Hà Nội, Câu lạc bộ Văn hóa ẩm thực Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học “Ẩm thực Việt Nam và vấn đề chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp”. Hội thảo đã đề cập đến một số nội dung: những sản phẩm nông nghiệp đặc sắc và có giá trị trong ẩm thực Việt Nam; văn hóa ẩm thực Việt Nam là một động lực phát triển du lịch; khả năng; khả năng sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm ẩm thực từ nông nghiệp truyền thống Việt Nam tại thị trường trong nước và trên thế giới.
Được sự giúp đỡ của Tổng cục Du lịch Việt Nam, Sở Thương mại – Du lịch, Sở Văn hóa – Thông tin Hưng Yên và Ủy ban nhân dân huyện Khoái Châu sẽ tổ chức Hội thảo Du lịch Hưng Yên vào cuối tháng 5/2001. Hội thảo tập trung vào 3 vấn đề: “Du lịch Hưng Yên với lễ hội Chử Đồng Tử – Tiên Dung”; “Du lịch sinh thái ven đô trên địa bàn Khoái Châu, Vân Giang – tỉnh Hưng Yên” và “Du lịch sông Hồng thăm quan các di tích lịch sử văn hóa”.
Nhằm giải quyết những bức xúc lâu nay đối với những người làm du lịch, Thừa Thiên – Huế đã quan tâm giải quyết vấn đề người bán hàng đeo bám khách du lịch. Qua đợt 1 của chiến dịch truy quét, các cơ quan chức năng đã gom 45 đối tượng bán hàng rong, chuyên đeo bám làm phiền hà du khách tại Lăng Minh Mạng, Đại Nội, Lăng Tự Đức, Khải Định, Chùa Thiên Mụ, ga Huế, các trục đường chính như Lê Lợi, Trần Hưng Đạo… Các đối tượng đã được đưa vào Trung tâm bảo trợ xã hội hoặc trả về địa phương (các đối tượng ngoài tỉnh). Việc truy quét tiếp tục thực hiện trong thời gian tới nhằm góp phần làm trong sạch môi trường du lịch Huế.
Nguyễn Vân – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001