Các loại quần áo được dung trong thế kỷ 21

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, vấn đề “trang phục” phục vụ con người sắp tới cũng có những bước tiến vượt bậc. Sau đây là một số loại quần áo dùng trong thế kỷ XXI do tập chí “Hiện – đại hoá” giới thiệu:
Quần áo bảo vệ sức khỏe con người.
Đây là loại quần áo có thể chông được ô nhiễm bên ngoài tác dụng vào cơ thể. Ngoài nguyên liệu truyền thống, quần áo loại này có thể thêm một số chất như: Si (Silicium), Zn (Zincium), Cu (Cuprum)… những chất này có tác dụng chống bụi và dầu bám vào quần áo, ngoài ra nó còn có tác dụng diệt khuẩn.
Quần áo điều hoà
Là loại quần áo có tính năng giống như một chiếc điều hoà nhiệt độ, khi gặp thời tiết nóng nó sẽ tự động giảm nhiệt độ, khi thời tiết lạnh nó lại tự động tăng cho nhiệt độ bên trong lúc nào cũng ấm áp, dễ chịu.
Các nhà khoa học Mỹ đã dung một loại sợi phản ứng nhiệt tạo ra chúng
Quần áo cứu hộ.
Các nhà khoa học Nhật Bản đã sản xuất ra một loại quần áo chuyên dung cho các nhà đi biển. Lúc khô ráo trông giống như quần áo bình thuờng, nhưng khi gặp nước, sẽ phình to gấp 18 lần ban đầu chỉ trong mấy chụ giây, lúc đó như cái phao cứu hộ.
Ngoài ra các nhà khoa học Nhật Bản, Pháp còn phối hợp nghiên cứu chế tạo ra một loại quần áo chịu lửa, bề ngoài của nó giống như bộ quần áo của các nhà du hành vũ tụ. Khi ở nhiệt độ cao 1.300 độ C, nhiệt độ bên trong của các sợi vải không tăng quá 5 độ C và nó có thể duy trì tình trạng này trong vòng 3 phút.
Quần áo kháng điện.
Đó là loại quần áo chuyên dung cho công nhân ngành điện do các kỹ sư Đức chế tạo. Do loại quần áo này có khả năng phản xạ lại song của sét, chống tích điện, thu hút các song vi ba… nên những người mặc quần áo này sẽ không gặp rắc rối khi tiếp xúc với điện.
Quần áo biến sắc.
Đó là quần áo có thể thay đổi màu sắc theo hoàn cảnh môi trường. Lính bộ binh mặc quần áo này rất tiện lọi trong việc nguỵ trang vì khi đứng dưới cây cối, quần áo biến thành màu xanh của lá cây, khi bò trên thảo nguyên nó thảy đổi màu sắc theo địa hình nơi diễn tập ở đó. Loại quần áo này do các kỹ sư Nhật Bản nghiên cứu, chế tạo.
Quần áo phát sáng.
Để đảm bảo an toàn cho những nhà thám hiểm và những người leo núi, các nhà khoa học Mỹ đã chế tạo ra một loại quần áo phát sáng giống như đom đóm. Trong bất kỳ tình huống nào như mất phương hướng, không liên lạc được với trung tâm… họ vẫn “phát sáng” trong đêm tối để đội cứu hộ có thể tìm thấy và đưa họ về.
Các nhà khoa học Mỹ còn chế tạo ra quần áo phản quang chuyên dùng cho những người lái xe ban đêm, nhằm gíup người lái xe dễ phát hiện ở khoản cách 300m, đảm bảo an toàn khi họ lái xe.
Quần áo không cần giặt.
Loại quần áo này mặc mãi, không cần giặt mà vẫn sạch. Cách làm của các nhà khoa học Nhật Bản là loại bỏ tính năng tích điện trong sợi vải làm cho chúng không có khả năng hút bụi và các chất như dầu mỡ, nước hoa quả… đồng thời vẫn giữ được độ bóng cần thiết cho quần áo.
Quần áo có thể ăn được.
Loại quần áo này được làm từ một sợi vải đặc biệt, bao gồm các nguyên vật liệu như: lòng trắng trứng, nước hoa quả, a xít a min, một hàm lượng nhỏ chất Mg, Fe, Ca… được dùng cho các nhà hành hải sản, thám hiểm, dã ngoại, leo núi. Họ sẽ “ăn quần áo” khi không có gì để ăn và chờ cứu viện.
Trần Sơn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11(176)2001

Thách cưới ngày xuân

Có đôi trai gái yêu nhau được phép làm lễ thành hôn vào dịp tết. Để thực hiện quy ước cưới hỏi văn minh, hai bên nội ngoại đề nghị hai cơ quan đứng ra tổ chức vì chú rể là cán bộ bảo tàng, cô dâu là hướng dẫn viên du lịch.
Đều là cán bộ nhân viên
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.
Để lễ cưới giàu chất văn hóa, đậm đà bản sắc dân tộc nhất là vào dịp đầu xuân, hai họ cùng thống nhất là trong buổi lễ thành thôn, nhà gái sẽ thách cưới bằng câu đối. Đúng ngày cưới, cô dâu chú rể xuất hiện lộng lẫy trong bộ comple áo dài dân tộc khi chào khách và chụp ảnh kỷ niệm. Khi mọi người đã yên vị, ông chủ tịch công đoàn nhà gái đứng lên mở đầu một vế xướng rất thực tế chân tình:
Chẳng phải làng văn, câu đối chỉ cần tương đối đối.
Ông chủ tịch công đoàn nhà trai liền đối đáp lại
Không là nhà báo, vần thơ chưa chỉnh cũng hay hay.
Tiếp theo bà Trưởng ban vận động nếp sống văn minh nhà gái ra về xướng:
Cưới buổi canh tân, cưới đời sống mới. Bà Trưởng ban vận động nếp sống văn minh nhà trai đối lại
Hỏi thời đổi mới, phải hỏi lối canh tân.
Đến lượt bí thư chi đoàn nhà gái đọc vế chúc:
Vui duyên mới em sẽ tài nghiệp vụ. Bí thư chi đoàn nhà trai cũng có vế mừng: Đẹp tân hôn anh càng giỏi chuyên môn. Có một đề tài quan trọng cho mỗi cặp vợ chồng mới cưới nhưng chưa ai đề cập, bà Trưởng ban kế hoạch hóa gia đình nhà gái liền xướng: Xã hội văn minh, đẻ gái hay trai đều quý mến. Bà Trưởng ban kế hoạch hóa gia đình nhà trai đâu chịu kém: Gia đình hạnh phúc sinh hai hay một mới là vừa. Thật tuyệt vời chẳng ai bảo ai mà người xướng cũng như người đối đều giữ đúng vai vế để chứng tỏ sự hiểu biết của mình trước hai họ. Một sự bẽn lẽn đáng yêu, cô dâu xin phép ra một vế xướng: Xã hội yên vui bởi lứa đôi chung thủy. Khác với phái đẹp, chú rể đĩnh đạc đứng lên đối lại: Gia đình êm ấm vì chồng vợ yêu thương nhau. Không khí thật tươi vui phấn khởi, câu đối tuy chưa chọi nhau chan chát nhưng rất là dân giã, phong phú lại phù hợp với buổi lễ thành hôn, một nhà thơ có mặt liền ứng khẩu:
Chồng công tác viện bảo tàng
Vợ hướng dẫn khách thật càng thêm duyên
Hai câu thơ được mọi người nhiệt liệt tán đồng, Ban tổ chức cũng kết thúc buổi lễ. Ra về ai cũng ca ngợi một đám cưới văn minh, trang trọng đậm nét nhân văn phù hợp với thời kỳ đổi mới.
Chuyện cười trong nhà hàng
Trời ơi, này anh bồi, tôi lượm được 1 cây đinh trong đĩa súp.
Thế ông, tưởng ông sẽ lượm được bông tai chắc?
Các anh có thường thay khăn bàn không?
Thưa ông, tôi không biết, tôi mới vào làm có hơn tháng.
Này anh bồi, tôi nhặt được chiếc bật lửa này trong đĩa súp.
Ồ cảm ơn ông! Thế mà người ta cứ nói là trên đời này không còn người thật thà…
Sống
Tôi muốn thời gian ngưng đọng lại
Chẳng kim giờ kim phút kim giây
Tôi muốn tóc trên đầu xanh mãi
Chẳng có bóng đêm buổi ban ngày
Tôi muốn lịch trên tường không bóc
Những cuộc vui mãi mãi còn đây
Tôi muốn không bao giờ biết khóc
Trái đất thân yêu hãy ngừng quay
Tôi rất biết đó là điều hoang tưởng
Chỉ những người điên ước mà thôi
Nhưng tôi chẳng làm sao cưỡng được
Những mộng mơ huyễn hoặc của con người
Tôi cũng biết nếu đồng hồ dừng lại
Trái đất ngừng quay nghĩa là chẳng còn gì
Sự sống có đâu mà tồn tại
Mọi vui buồn không biết cả đam mê
Nếu như vậy thì ôi, kinh khủng quá
Xin thời gian cứ tuần tự bước đều
Tóc trên đầu hết xanh thì trắng xóa
Cho con người biết sống để mà yêu.
Anh Khoa -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Tổng quan về chương trình hành động quốc gia Du lịch – Phần 2

Chất lượng dịch vụ lữ hành, khách sạn được coi trọng, thông qua chủ trương bình chọn và công nhận 10 hãng lữ hành, 10 khách sạn hàng đầu của Việt Nam hàng năm, thông qua cuộc thi có tính chuyên nghiệp toàn quốc lần đầu tiên của 2 lực lượng chủ yếu là hướng dẫn viên và lễ tân khách sạn. Các cuộc tiếp xúc, các hiệp định hợp tác, các diễn đàn du lịch quốc tế, đã được tập trung vào nội dung khai thác, tìm tòi kinh nghiệm xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù, nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ đáp ứng nhu cầu riêng của từng thị trường, từng phân đoạn thị trường. Chiến lược đào tạo nguồn nhân lực được xây dựng và triển khai, năng lực và hiệu lực quản lý nhà nước về Du lịch được tăng cường từng bước. Đã tiến hành điều tra, thống kê, phân tích đánh giá nguồn nhân lực du lịch toàn ngành. Dự án đào tạo do Luxemburg và EU tài trợ đã tạo điều kiện nâng cấp các trường trung học nghiệp vụ Du lịch sẵn có và thành lập mới trường Trung học nghiệp vụ Du lịch Huế. Nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ tại chức, lớp bên cạnh doanh nghiệp được mở. Các khoa du lịch của các trường đại học quốc gia đào tạo ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng cao đáp ứng nhu cầu của ngành Du lịch. Quan trọng hơn là đã chú trọng đào tạo trong sử dụng. Sử dụng đúng cũng là đào tạo. Lực lượng cán bộ trong ngành, từ cơ sở, đã trưởng thành nhiều trong quá trình triển khai các chương trình hành động thực tế. Tổ chức của ngành từ Tổng cục đến các Sở từng bước được kiện toàn theo hướng gọn và tinh, thực hiện cải cách hành chính, tính giản biên chế, nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý. Kinh nghiệm trong 40 năm xây dựng ngành được tích lũy, kế thừa và phát huy cao trong giai đoạn mới. Công tác Thanh Tra, Thi đua Pháp chế Du lịch được tăng cường nhằm phát huy nhân tố mới, hướng vào chất lượng hiệu quả, vì triển khai thắng lợi Chương trình hành động quốc gia, triển khai Pháp lệnh du lịch, xây dựng các nghị định, chỉ thị, nghị quyết về Du lịch. Ba nội dung quan trọng, chuyên ngành trên được nhân lên gấp bội nhờ chính sách vĩ mô tập trung phát triển du lịch của Đảng, nhà nước, mối quan hệ gắn bó, hợp tác, hỗ trợ chặt chẽ, hiệu quả của các ngành các cấp. Thủ tướng Chính phủ đã quyết định áp dụng chế độ miễn thị thực cho công dân Thái Lan, Philippines vào Việt Nam trong vòng 30 ngày. Pháp lệnh xuất nhập cảnh đã cho phép khách du lịch đi theo đoàn có thể lấy thị thực tại cửa khẩu, xuất nhập cảnh qua bất cứ cửa khẩu quốc tế nào của Việt Nam, khách quá cảnh có thể vào du lịch không visa trong vòng 72 tiếng. Lệ phí visa khách tàu biển đã giảm xuống là 10 đô la Mỹ. Chính sách 1 giá đối với khách du lịch quốc tế và trong nước đã và đang được áp dụng. Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch đầu tư đã có nhiều chính sách, tháo gỡ khó khăn, và trực tiếp giúp giải quyết kinh phí và giải ngân cho Chương trình hành động quốc gia về Du lịch. Hàng không Việt Nam đã mở lại, mở thêm nhiều đường bay mới từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Tokyo, Xiêm Riệp, Sê – un, từ Đà Nẵng đến Băng Cốc của Thái Lan, Hồng Kông… Cơ sở hạ tầng, đường bộ, đường sắt, đường biển được nâng cấp, phát triển, nối liền các điểm tham quan du lịch. Các Bộ, ngành ngoại giao, Công an, quốc phòng, Hải quan, Thương mại, giao thông vận tải, văn hóa – thông tin, Bưu chính viễn thông, Thanh tra, Tư pháp, các cơ quan thông tin báo chí Trung ương và địa phương… cùng quan tâm giúp đỡ, phối hợp, hỗ trợ tạo nên sức mạnh tổng hợp triển khai thành công Chương trình hành động quốc gia về Du lịch. Còn nhiều việc phải làm, nhiều khó khăn phải vượt, nhiều vướng mắc phải tháo gỡ. Chương trình hành động quốc gia về Du lịch với mục tiêu “Điểm đến của thiên niên kỷ mới” chỉ mới đi những bước ban đầu. Thiên niên kỷ mới đã đến. Hành trang đã chuẩn bị khá kỹ càng. Chương trình hành động quốc gia về Du lịch đang được sơ kết, bổ sung, hoàn chỉnh để đệ trình lên Thủ tướng Chính phủ cho phép triển khai tiếp trong năm 2001 và những năm sau. Tiếp tục triển khai thắng lợi Chương trình hành động quốc gia về Du lịch là trọng tâm của toàn ngành nhằm đưa Du lịch phát triển, đạt được những mục tiêu chiến lược, đưa Việt Nam trở thành trung tâm du lịch có tầm cỡ, sớm đứng vào hàng các nước có ngành công nghiệp Du lịch phát triển trong khu vực.
PV – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Tổng quan về chương trình hành động quốc gia Du lịch – Phần 1

(Tiến sĩ Phạm Từ – phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch)
Chương trình hành động quốc gia về Du lịch được xây dựng từ năm 1998, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và bắt đầu triển khai từ tháng 4 năm 1999, triển khai một cách tập trung trong năm 2000. Cả 6 dự án trong chương trình đều được tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả. Mục tiêu đề ra ban đầu đã thành hiện thực chặn đà giảm sút do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực vào năm 1998, đưa du lịch phát triển với tốc độ cao, ngay trong khi các ngành kinh tế khác còn bị chững lại. Năm 1999, khách du lịch quốc tế tăng 17,8%, khách trong nước tăng 6%. Năm 2000, tăng tiếp 20% và 6% trên cả hai chỉ tiêu tương ứng. Người khách quốc tế thứ 2 triệu đã đến Việt Nam sớm hơn dự kiến. Và như vậy đến hết năm 2000, khách quốc tế đến Việt Nam là trên 2,1 triệu, tăng nửa triệu trong vòng 2 năm. Du lịch trở thành một trong không nhiều ngành có tốc độ tăng trưởng cao, có giá trị xuất khẩu tại chỗ, tính từ tổng thu nhập xã hội do du lịch mang lại trên 1 tỷ đô la Mỹ. Điều quan trọng không chỉ là những chỉ tiêu ban đầu đã đạt được, mà là khẳng định tính đúng đắn của một chủ trương, một hướng đi, cách làm và những bài học kinh nghiệm đã tích lũy được, hứa hẹn một chiều hướng, một tốc độ và quy mô phát triển mới trong thời gian tới. Kết luận quan trọng của Bộ chính trị “Phát triển Du lịch trong tình hình mới” đã đi vào cuộc sống và trở thành hiện thực sinh động. Pháp lệnh Du lịch đã từng bước được triển khai. Ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch đã hoạt động có hiệu quả. 32 tỉnh, thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo Du lịch. 14 Bộ, ngành đã triển khai kế hoạch thực hiện Chương trình hành động quốc gia về Du lịch. Quan hệ liên ngành trong lĩnh vực du lịch đã gắn bó. Sức mạnh của đội ngũ cán bộ, nhân viên trong toàn ngành đã được tập hợp, phát huy theo một chương trình hành động thống nhất. Bốn nội dung nổi bật, có tính quyết định Chương trình hành động quốc gia, có thể khái quát là:
Chương trình quảng bá xúc tiến du lịch được triển khai tập trung, rầm rộ, cả trong và ngoài nước. Các doanh nghiệp, các Sở Du lịch, Thương mại – Du lịch có nhiều hình thức chủ động sáng tạo để tuyên truyền quảng bá trong phạm vi của mình và tham gia tích cực với Tổng cục Du lịch để quảng cá chung toàn ngành. Các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương và các địa phương tập trung tuyên truyền cho Du lịch. Các chương trình xúc tiến, mở thị trường được triển khai theo kế hoạch, có trọng điểm, tập hợp được sức mạnh, các doanh nghiệp, các địa bàn, phối hợp chặt chẽ giữa Du lịch và Hàng không trong ngôi nhà chung, dưới tiêu đề “Việt Nam – điểm đến của thiên niên kỷ mới”. Hàng loạt ấn phẩm quảng bá đã được sản xuất và phân phát, phù hợp với nhu cầu thị trường bằng các thứ tiếng riêng cho từng nước. Các thị trường đã phát động có hiệu quả và sẽ tiếp tục tập trung xúc tiến là Nhật và Bắc Á, Pháp, Anh, Đức và Tây u, Mỹ và các nước châu Mỹ, Trung Quốc và các lãnh thổ nói tiếng Trung, Úc và các nước Đông Nam Á.
Sản phẩm và chất lượng sản phẩm đã được coi trọng và tập trung đầu tư khai thác đúng hướng. Hai mươi lễ hội đại diện cho các vùng miền đã được toorc hức khai thác, tạo nên một ấn tượng riêng của sản phẩm Du lịch Việt Nam – Du lịch Lễ hội, chạy dài các tháng trong năm, trải rộng trên không gian cả nước. 21 điểm du lịch được khảo sát, có kế hoạch nâng cấp. Hàng loạt công trình mới, khu vui chơi giải trí được xây dựng, chỉnh trang, đưa vào hoạt động, bằng nguồn vốn ngân sách địa phương, vốn liên doanh liên kết từ các thành phần kinh tế và có sự tham gia chủ động tích cực của các Sở Du lịch, Sở Thương mại Du lịch, các đơn vị Du lịch trên địa bàn. Nhiều tour, tuyến mới, loại hình du lịch mới được khảo sát và đưa ra thị trường.
PV – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Giải phóng mặt bằng xây cầu Cần Thơ

Bộ trưởng bộ giao thông vận tải Lê Ngọc Hoàn đã ký quyết định phê duyệt phương án thực hiện và kinh phí giải phóng mặt bằng tái định cư xây dựng dự án cầu Cần Thơ. Theo đó dành kinh phí 141,6 tỷ đồng cho việc đền bù hỗ trợ dân di dời nhà cửa, xây dựng khu tái định cư… Tổng diện tích mặt bằng giải tỏa để phục vụ xây dựng cầu Cần Thơ là 265,8 ha, bắt đầu tại km 2061 trên quốc lộ 1A thuộc địa phận huyện Binh Minh, tỉnh Vĩnh Long, kết thúc tại km 2077 trên quốc lộ 1A huyện Châu Thành tỉnh Cần Thơ, theo kế hoạch đến ngày 30 tháng 5 năm 2000 sẽ hoàn thành đo đạc địa chính, lập hồ sơ thu hồi đất, tháng 6 năm 2000 xây dựng khu tái định cư, tháng 9 đến tháng 12 năm 2000 phê duyệt và chi trả đền bù cho các hộ dân và đến đầu năm 2001 sẽ bàn giao cho các đơn vị thi công.
Phát hiện nhiều điểm có vàng ở Quảng Trị
Các nhà khoa học thuộc trường đại học mỏ địa chất Hà Nội vừa công bố tài liệu khoa học cho biết trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có nhiều điểm có vàng với trữ lượng lớn khoảng 60 triệu tấn trong đó hai mỏ thuộc xã Tà Long, Đakrong, và thượng nguồn sông bến Hải xã Vĩnh Ô, Vĩnh Linh, là hai điểm có nhiều triển vọng vàng công nghiệp. Mặc dù vậy, các điểm có vàng nằm ở các vùng xã xa xôi nên việc quản lý và khai thác sẽ rất khó khăn.
Tồn đọng hơn 150000 án dân sự/ năm
Theo thống kê của bộ tư pháp mỗi năm nước ta tồn đọng trung bình hơn 150.000 án dân sự trên năm, vụ việc về án dân sự không thi hành được hơn 60% số này thuộc về việc thi hành án dân sự trong các án hình sự. Trong số các nguyên nhân gây ra tình trạng trên, điều đáng lưu ý là 11% bản án dân sự tồn đọng thuộc các vụ án kinh tế, ma túy nhưng bọn tội phạm đã tẩu tán tài sản từ trước. Ngoài ra còn có một số kinh doanh khác như đối tượng phải thi hành án không có tài sản hoặc nguồn thu nhập, đối tượng là cơ quan, tổ chức giải thể, không rõ địa chỉ. Được biết các vụ án dân sự liên quan đến ma túy thì rất khó thi hành.
Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro
Trụ sở chính 105 Lê Lợi, thành phố Vũng Tàu
Điện thoại 64 83987172
Fax 64 839867
Vietsovpetro liên doanh giữa Việt Nam và Liên Bang Nga là đơn vị khai thác dầu khí lớn nhất Việt Nam. Ngày thành lập 19 tháng 6 năm 1981. Vùng hoạt động mỏ Bạch Hổ, mỏ Rồng, mỏ Đại Hùng. Năm 1999 khai thác dầu đạt 12,438 triệu tấn kể cả mỏ Đại Hùng tiếp quản vào tháng 2 năm 1999 từ Petronas Carigaly. Đưa khí vào bờ 1,4 tỷ mét khối. Sản lượng dầu khai thác từ năm 1986 đến năm 1999 đạt 75,715 triệu tấn. Cung cấp khí vào bờ từ năm 1995 đến 1999 đạt 3,5 tỷ mét khối. Năm 2000 Vietsovpetro sẽ khai thác 13 triệu tấn dầu, đưa khí đồng hành vào bờ 1,5 tỷ mét khối. Các đơn vị trực thuộc XDNL Vietsovpetro có đủ năng lực trong các lĩnh vực: nghiên cứu cấu trúc địa chất, khoan tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí. Xây lắp khảo sát, bảo dưỡng các công trình dầu khí biển. Vận tải biển, cung cấp các dịch vụ bến cảng, kho chứa hàng. Dịch vụ địa vật lý giếng khoan. Phòng chống cháy nổ, sự cố phun trào dầu khí và bảo vệ môi trường.
T.T-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(133)2000.

Từ chuyện lệ phí ở hòn Trống Mái

Đến bãi biển Sầm Sơn (Thanh Hóa) nghỉ mát, du khách thường được mời chào làm một “tour ngắn” ghé thăm các di tích danh thắng ở quanh vùng như đền Độc Cước, hòn Trống Mái, chùa Cô Tiên….Từ các nhà nghỉ lên đến các địa điểm du lịch vừa nêu, đi – về chỉ mất nửa ngày, nên thường hiếm ai từ chối.
Để đến hòn Trống Mái, khách thường được mời chào theo 2 ngả đường. Ngả thứ nhất: ngồi lên ô tô đi hết trục đường Nguyễn Du, leo dốc và đến tận nơi. Ngả thứ hai – thường được cánh xích lô nhiệt tình chỉ dẫn, là ngồi xe ôm hoặc xích lô đến chân núi (thuộc địa phận xóm Mới, phường Bắc Sơn) sau đó leo dốc chừng 100m là lên tới nơi.
Theo thông lệ năm nay, trước khi đặt chân đến Sầm Sơn, khách đã phải nộp 10.000đồng/người để có được “giấy vào cửa”. Đây là vé thắng cảnh – nghỉ mát, mà nếu hiểu kỹ ra trong đó đã có cả phí bảo hiểm, tiền duy trì bến bãi, lệ phí danh thắng….Nhưng nếu đến với hòn Trống Mái lại có thêm “lệ” riêng. Nếu đi bằng ô tô (theo đường chính) sẽ phải nộp bổ đầu đồng đều mức lệ phí 20.000đồng/xe. Còn nếu đi theo đường phụ, trước khi leo dốc khách sẽ bị chặn lại bởi một ba-ri-e và một đội thu ngân. Phải bỏ ra 2.000đồng/người, có khi linh động (!?) chỉ tính theo đầu xe xích lô là 2.000đồng/xe (chở 2-3 người) thì mới được đi qua đây. Tiền này là lệ phí gì vậy ? Theo người thanh niên thu tiền của người viết bài này sáng 12/7/1999, đây là tiền dành cho “bảo vệ an ninh”.
Vì sao lại có chuyện phí đè lên phí như vậy ? Theo một người giải thích, sở dĩ có chuyện thu phí này là do Ủy ban nhân dân phường Bắc Sơn tổ chức theo hình thức giao khoán. Tổ chức thu phí ở trục đường chính được khoán 7 triệu đồng/vụ (3 tháng), tổ thu đường phụ là 3 triệu đồng/vụ. Đã làm ắt phải có lãi. Để đủ mức nộp khoán và lãi riêng, nghĩa là phải tận tu, phải áp dụng “tiền không xuất, chân chớ bước”.
So sánh mức thu ở hai ngả lên hòn Trống Mái, dễ thấy có độ vênh nhau đến kỳ lạ. Lạ hơn, là thu ở đường phụ chẳng có biên lai, chứng từ gì giao cho khách. Lạ nữa là sau khi trả tiền “bảo vệ an ninh” nhưng suốt chặng leo dốc khách bị hàng rong bán hương và quạt giấy “đeo bám” nhiệt tình đến sốt ruột, mà chẳng hề thấy nhân viên bảo vệ nào ngăn chặn, giải tỏa. Dọc con đường vượt dốc lổn nhổn, gập ghềnh cũng chẳng thấy dấu tích tiền an ninh bỏ ra đầu tư cho khách dễ lên xuống. Và cuối cùng, dù lên núi theo ngả nào, ở xung quanh hòn Trống Mái khách vẫn bị đủ thứ dịch vụ các loại: cho thuê ngựa, thuê hình nộm để chụp ảnh, hàng rong (đồ lưu niệm, vàng hương, quạt giấy, mía….) “tấn công” không theo một trật tự nào.
Tiền “lệ phí an ninh” mà phường Bắc Sơn đã thu để dành làm việc gì ? Mười triệu đồng phải chăng quá lớn so với hàng tỷ đồng (thu từ tiền vé thắng cảnh – nghỉ mát) nên khoản lệ phí ở hòn Trống Mái vẫn cớ “một mình một kiểu” khiến khách đến đây không khỏi phiền lòng về những nét thiếu văn hóa trong kinh doanh du lịch của một vùng đất lấy kinh tế du lịch làm mũi nhọn ?
Hoàng Long – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

“Vua” xuất bản sách hướng dẫn du lịch

25 tuổi, vừa xây dựng gia đình và nhận bằng thạc sĩ khoa quản trị kinh doanh tại trường đại học London xong, Jony Wheeler làm ngay những gì mà số đông bạn trẻ phương Tây đã làm. Anh quyết định dành một năm để du lịch khắp thế giới trước khi “an cư lạc nghiệp”. Anh cùng vợ là Maureen đã mua một ô tô second-hand. Rồi trên chiếc ô tô đó, vợ chồng anh bắt đầu cuộc du ngoạn qua châu u và Trung Đông. Khi đến Áp-ga-nixtan, anh đã bán chiếc ô tô cũ đó, để lấy một ít tiền lãi. Sau đó, với số tiền ít ỏi họ lại du lịch tiếp bằng xe buýt, tàu hỏa và đi nhờ xe qua Ấn Độ, Đông Nam Á, rồi đến Bali, vợ chồng anh đã đến Xít-ni (Ô-xtrây-li-a). Tại đây, họ đã làm việc 3 tháng để có đủ tiền đáp máy bay trở về Anh, tổ quốc của họ. Trở về Anh, vợ chồng Jony Wheeler quyết định thành lập nhà xuất bản các ấn phẩm “Hành tinh đơn độc” (Lonely Planet Publications) – một công ty do gia đình Wheeler kiểm soát, trụ sở đặt ở Melbourne, được coi là một trong những nhà xuất bản sách du lịch lớn nhất thế giới – với hơn 250 đầu sách, chủ yếu là sách hướng dẫn du lịch. Với việc cho xuất bản sách hướng dẫn du lịch đến Bắc Cực hồi tháng 11 năm ngoái, gia đình Wheeler gần như đã xuất bản đủ các ấn phẩm hướng dẫn du lịch toàn cầu. Các sách hướng dẫn này đang giúp các nhà du lịch phương Tây hiểu biết thêm về những vùng du lịch xa hơn với giá rẻ. Đồng thời cũng quảng cáo cho ngành du lịch ở nhiều nước đang phát triển. Hiện nay “Lonely Planet Publications” đang tận dụng làn sóng du lịch ngược lại: những người giàu có mới xuất hiện từ châu Á và Mỹ Latinh sang du lịch tại châu u, Mỹ, Canada, Ô-xtrây-li-a và Niu-Dilơn. Năm 1998, Lonely Planet in khoảng 2,5 triệu sách hướng dẫn du lịch bằng tiếng Anh, Pháp và các tiếng khác. Số sách này sẽ tăng lên 3 triệu trong năm này, với số tiền bán trị giá hơn 30 triệu đô la Ô-xtrây-li-a (chừng 23 triệu USD).
Vợ chồn Wheeler bước vào nghề xuất bản khá chật vật. Để đáp ứng nhiều vấn đề mà họ tiếp nhận được trong chuyến đi Ô-xtrây-li-a, họ đã quyết định viết một cuốn sách về những kinh nghiệm của họ. Tên cuốn sách là “Sang châu Á với giá rẻ”. Jony Wheeler kể lại: “Chúng tôi cùng nhau viết trên bàn ăn ở Xít-ni. Chúng tôi in chúng với giá rẻ. Sau đó, chúng tôi dùng ghim kẹp lại và tự sửa chữa. Tôi nghỉ một ngày và mang sách đến các cửa hàng. Và thật ngạc nhiên, chúng tôi bán được 1500 cuốn trong tuần đầu tiên. Chúng tôi in tiếp 3500 cuốn và cũng bán hết veo. Chúng tôi lại in thêm 3500 cuốn khác. Sau một năm cùng du lịch qua Đông Nam Á bằng một chiếc xe máy, năm 1974, vợ chồng Jony Wheeler đã in cuốn sách đầu tiên của họ với nhan đề “Đông Nam Á tằn tiện”, đạt tiêu chuẩn chuyên nghiệp.
Những năm đầu viết, xuất bản và phát hành các sách hướng dẫn du lịch là vô cùng khó khăn đối với gia đình Wheeler. Đến năm 1979, với 16 đầu sách, Lonely Planet mới thu được số tiền ít ỏi. Bước ngoặt kinh doanh của gia đình này là vào năm 1952, khi một cuốn sách hướng dẫn về Ấn Độ do Jony Wheeler và hai người khác viết đoạt giải sách hướng dẫn du lịch Thomas Cook. Theo Wheeler giải thưởng này đã nâng cao uy tín và mở ra triển vọng sáng sủa cho Lonely Planet. Cũng kể từ đó, ấn phẩm về sách hướng dẫn du lịch của Lonely Planet giành được nhiều giải thưởng.
Nói về sự thành công của mình, Wheeler giải thích rằng: sách hướng dẫn du lịch phải chính xác, lời khuyên du lịch phải thiết thực và viết chi tiết như thế này: “Khi bạn ra khỏi ga tàu hỏa, rẽ phải và ở đó có một khách sạn sang trọng, rẽ trái bạn có thể bị trấn lột. Sách hướng dẫn cũng phải làm cho người đọc hiểu rõ hơn những nơi họ tới thăm. Nếu bạn biết chút ít về lịch sử và văn hóa địa phương mà bạn tới du lịch, bạn sẽ vui thích hơn. Ở các sách hướng dẫn của Lonely Planet đều nói rõ cho du khách biết phải chuẩn bị chu đáo như thế nào khi đến thăm từng nơi. Ngoài 11 cuốn sách hướng dẫn những cuộc du lịch ít tốn kém ở châu Á, châu Phi, Trung Đông, châu u và Mỹ, Lonely Planet còn xuất bản 113 sách hướng dẫn hành trang du lịch đến từng nước, nhóm nước hoặc những khu vực trong những nước rộng lớn. Những sách này cung cấp thông tin về: đến nơi nào, làm gì, xem gì, ăn và ngủ ở đâu tiện lợi đối với trẻ em và những bé còn địu sau lưng…Lonely Planet còn xuất bản cả sách hướng dẫn về dạo chơi, về thành phố, tập bản dồ du lịch và sách ghi các câu giao tiếp thông thường bằng các thứ tiếng cho khách du lịch.
Hiện nay, Lonely Planet đã nối mạng Internet, cung cấp mọi hướng dẫn cho khách du lịch và những thông tin mới nhất về du lịch. Mạng nối này chẳng khác gì một “cuốn sách hướng dẫn thu gọn lại”, đáp ứng mọi thông tin về du lịch cho toàn thế giới.
Vũ Phúc – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Việt Nam và các nước Bắc Âu hướng vào thế kỷ 21

Nhận lời mời của thủ tướng các nước Thụy Điển, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch, Thủ tướng Phan Văn Khải sang thăm chính thức 4 nước trên từ ngày 20/9 đến ngày 2/10/1999. Đây là chuyến thăm các nước Bắc u đầu tiên trên cương vị thủ tướng Phan Văn Khải nhằm tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác trên nhiều lĩnh vực giữa Việt Nam với các nước này, thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư, đồng thời đặt nền móng cho một khuôn khổ quan hệ mới giữa Việt Nam với các nước Bắc Âu hướng vào thế kỷ 21.
Việt Nam và các nước Bắc Âu từ lâu đã có quan hệ hữu nghị hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Mặc dù xa cách về địa lý, thời gian, không gian, những người bạn Bắc u luôn dành cho Việt Nam tình cảm tốt đẹp và sự ủng hộ tích cực đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Thụy Điển, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch là những nước phương tây đầu tiên công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Các nước Bắc Âu viện trợ sớm nhất cho Việt Nam ngay từ đầu những năm 70, với tổng viện trợ không hoàn lại tính đến tài khóa 1999/2000 đạt gần 2,3 tỷ USD. Các nước Bắc u viện trợ cho Việt Nam không chỉ trên phương diện song phương mà còn đa phương, thông qua các tổ chức quốc tế như: UNDP, UNESCO… và các tổ chức phi chính phủ như: Hội chữ thập đỏ, hội cứu trợ trẻ em Thụy Điển… đồng thời là những nước sớm ủng hộ công cuộc đổi mới, xóa nợ cho Việt Nam, tích cực hỗ trợ Việt Nam bình thường hóa quan hệ với các tổ chức tài chính và tiền tệ quốc tế, thiết lập và tăng cường quan hệ với EU. Kim ngạch buôn bán hai chiều giữa Việt Nam và các nước Bắc Âu mỗi năm đạt khoảng 300 triệu USD trong đó ta xuất khoảng 180 triệu USD chủ yếu là nguyên vật liệu thô, gạo, hàng may mặc…và nhập vào khoảng 120 triệu USD.
Việt Nam và các nước Bắc u cũng đã ký hầu hết các hiệp định hợp tác phát triển hợp tác kinh tế khoa học kỹ thuật, thương mại, khuyến khích và bảo hộ đầu tư, trốn đánh thuế hai lần, hợp tác vận chuyển hàng không… tạo cơ sở pháp lý cho sự hợp tác giữa Việt Nam với từng nước. Tuy nhiên quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và các nước Bắc u còn ở mức khiêm tốn. Na Uy hiện có 4 dự án đầu tư vào các lĩnh vực chế biến gỗ, dầu khí, trị giá 36,5 triệu USD.Phần Lan chỉ có một dự án BOT nhà máy điện tại vũng tàu tổng đầu tư 110 triệu USD. Đan Mạch cũng chỉ có 2 dự án đầu tư là liên doanh nhà máy bia Đông Nam Á và công ty bia Huế, với số vốn đầu tư 10,4 triệu USD.
Thuỵ Điển, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch đều là những nước có nền công nghiệp phát triển ở Châu u và trên thế giới. Phần Lan nổi bật với ngành công nghiệp giấy và gỗ, hàng năm xuất khẩu khoảng 9 triệu tấn, đứng hàng thứ hai trên thế giới sau Canada. Thuỵ Điển nổi bật với ngành công nghiệp luyện kim, mỗi năm sản xuất khoảng 4 triệu tấn thép, trong đó xuất khẩu trên 3 triệu tấn. Na Uy nổi bật với công nghiệp dầu khí, ước tính trên 3000 tỷ m2 khí đốt và trên 10.000 tỷ tấn dầu lửa, dự kiến đến hết 2005 lượng dầu khai thác được khoảng 30% trữ lượng. Đan Mạch là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu Turbin chạy bằng sức gió và còn là nước có nền công nghiệp phát triển rất cao, hàng xuất khẩu khoảng 30 tỷ USD các mặt hàng lương thực và thực phẩm. Bốn nước trên có tổng số 23 triệu dân, với mức thu nhập khoảng từ 25.000 USD đến trên 33.000 USD/người/năm và nền kinh tế bằng khoảng 80% -90% nền kinh tế của Anh. Tiềm năng của các nước trên là rất lớn. Hy vọng rằng hướng vào thế kỷ 21, quan hệ hợp tác kinh tế thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và các nước nói trên sẽ ngày càng phát triển phù hợp với tiềm năng và lợi ích của mỗi nước.
Nguyễn Thị Sự – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Cần khai thác thế mạnh du lịch văn hóa Chăm ở Ninh Thuận

Ninh Thuận, mảnh đất cực nam ủa duyên hải miền Trung từ lâu đã thu hút khách du lịch bởi có những bãi biển đẹp như Ninh Chữ, Cà Ná, Vịnh Vĩnh Hy… Ninh Thuận còn biết đến vì ở đây còn là nơi duy nhất còn cộng đồng người Chăm sinh sống, những đền tháp, những lễ hội của người Chăm luôn là đề tài hấp dẫn bao nhà nghiên cứu, những người yêu văn hóa Chămpa.
Song vấn đề được đề cập ở đây là Ninh Thuận nên chọn cho mình một hướng đi đặc trưng, tạo cho mình một sản phẩm du lịch đặc thù địa phương thì lâu nay, ngành du lịch Ninh Thuận vẫn chưa chú trọng. Vì nếu là du lịch nghỉ dưỡng, leo núi, cảnh quan thì Ninh Thuận không thể so với Lâm Đồng; Nếu chọn du lịch biển, Ninh Thuận không thể bì kịp với Khánh Hòa; du lịch văn hóa – lịch sử không bì kịp với Thừa Thiên Huế. Nên chăng, một hướng riêng của Ninh Thuận mà không đâu có được là Du lịch văn hóa Chăm, khai thác thế mạnh của các di tích, các lễ hội, các làng nghề truyền thống của người Chăm để thu hút khách du lịch đến với Ninh Thuận.
Văn hóa Chăm là một di sản đồ sộ, trải dìa suốt dải đất miền Trung, trong đó Ninh Thuận còn may mắn giữ gìn được khá nhiều di tích đền tháp đặc trưng cho kiến trúc cổ Chămpa như tháp Hòa Lai (thế kỷ 9 – cổ nhất), tháp Poklonggrai (lớn nhất) và tháp Porome (tháp trẻ thế kỷ 17). Tháp Poklonggrai là cụm thám còn giữ gìn được tương đối trọn vẹn nhất trong hàng chục tháp Chàm hiện còn ở miền Trung. Hằng năm, lễ hội Katê được tổ chức tại đây với nhiều thủ tục tế lễ mang đậm dấu ấn tín ngưỡng phồn thực của người Chăm. Qua lễ hội người ta có thể tìm hiểu được quan niệm về tín ngưỡng âm dương, quan niệm về vũ trụ, năng khiếu thẩm mỹ… mang đặc thù nét văn hóa Á Đông của cộng đồng người Chăm. Văn hóa Chăm còn lưu giữ được qua từng đường nét tinh xảo của thổ cẩm Chăm. Làng Chăm Mỹ Nghiệp mấy năm gần đây đã được khách du lịch trong và ngoài nước biết đến nhờ sản phẩm của cơ sở dệt thổ cẩm Inrahani của bà Thạch Thị Trụ và các cơ sở khác. Nghề dệt thổ cẩm của người Chăm phát triển rực rỡ từ xa xưa, cung cấp vải mặc cho dân chúng và các bậc vua chúa. Sản phẩm của họ còn vươn xa cung cấp cho các tộc người ở Tây Nguyên. Sản phẩm thổ cẩm ở đây đã có thị trường tiêu thụ rộng rãi trong và ngoài nước, theo chân du khách ra nước ngoài. Du khách đến Ninh Thuận đều không quên ghé thăm làng Mỹ Nghiệp để mua hàng kỷ niệm. Từ 10.000 đồng trở lên, bạn có thể mua được một ví cầm tay, hoặc xách tay, cặp làm việc, chăn đắp, khăn trải bàn… nhìn những tấm ảnh, những dòng lưu bút của du khách lưu tại đây chứng tỏ du khách rất thích thú được xem những bàn tay khéo léo của các cô gái Chăm qua từng con chỉ, từng nét hoa.
Làng gốm Bàu Chúc tại thị trấn Ninh Phước cũng là điểm du khách thật thích thú được xem những người phụ nữ ở đây làm gốm. Không cần bàn xoay, thợ gốm Bàu Trúc vừa đi vòng quanh sản phẩm của mình vừa dùng bàn tay khéo léo chuốt, nặn nên sản phẩm. Những chiếc om, nhựng chum, ấm đất, lọ hoa… qua tay những người thợ gốm đều trọn trịa, cân đối không kém gì làm bằng bàn xoay. Bà Đàng Thị Phan – một nghiệp nhân cho biết: “Sản phẩm gốm Chăm đẹp ở màu gốm, ở nét thô ráp của bàn tay thủ công. Nhờ độ già non của lửa, tỉ lệ đất nhồi với phụ gia mà sản phẩm gốm Chăm Bàu Chúc đã tạo được uy tín với khách hàng”. Ngoài những vật dụng hàng ngày như chum nước, nồi đất, ấm đất, người thợ ở đây còn biết làm các kiểu bình hoa, bình trà, đỉnh xông trầm… theo đơn đặt hàng của khách tận Hà Nội, Hải Dương…
Được đến thăm và tìm hiểu phong tục tập quán, sinh hoạt cộng đồng của người Chăm là một điều lý thú đối với khách du lịch. Nghiên cứu và phổ biến nhưng vốn quý này đối với du khách là một việc làm công phu. Ngành du lịch Ninh Thuận đã và đang suy nghĩ, tìm tòi cách tháo gỡ cho mình. Tuy vậy, những năm qua, du lịch văn hóa Chăm vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Ông Thái Đức Dung, giám đốc công ty du lịch Ninh Thuận cho biết: “Năm 1998, Ninh Thuận đón hơn 41.300 khách du lịch nhưng khách du lịch văn hóa Chăm thông qua Công ty, kể cả lễ hội Katê mới khoảng 200 khách”. Nói về nguyên nhân này, ông Dũng cho rằng: “Vì ngành du lịch chưa xác định đây là sản phẩm chính của mình, việc tuyên truyền quảng bá về văn hóa Chăm chưa rộng rãi đến với khách du lịch, với nhân dân trong nước. Trong lúc khó khăn, dịch vụ khách sạn, ăn uống, nghỉ dưỡng đã được Công ty chú trọng hơn để nuôi sống Công ty”.
Tại buổi làm việc mới đây giữa đại diện văn phòng Tổng cục du lịch, báo tuần du lịch tại miền trung, lãnh đạo 2 sở Văn hóa – thông tin và thương mại – du lịch Ninh Thuận rất tâm đắc với cách đặt vấn đề khai thác vốn văn hóa Chăm để phục vụ phát triển du lịch. Ông Lê Minh Pong – phó giám đốc sở VH-TT Ninh Thuận cho rằng: “Chỉ có thông qua du lịch, văn hóa Chăm mới có điều kiện tiếp xúc với bên ngoài. Nhờ đó, người ta hiểu về người Chăm hơn, hiểu được nhưng điều kì diệu của văn hóa Chămpa. Và nhờ có vậy, văn hóa Chăm mới có điều kiện bảo tồn, khai thác có hiệu quả”.
Ngành du lịch Ninh Thuận nêu quyết tâm mở tour du lịch văn hóa Chăm để giới thiệu với du khách tham quan, tìm hiểu tháp Chàm, các làng nghề truyền thống, các lễ hội đặc sắc của người Chăm…
Nguyễn Văn Thiêng-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Lái xe công ty du lịch 12 bị hành hùng dã man

Ông Đỗ Hiến, phó giám đốc Công ty Du lịch 12 (217 Đội Cấn – Hà Nội) cho biết: Chiều ngày 6-7-1999, anh Đỗ Bá Khôi lái xe taxi số 158 biển kiểm soát 29L-0443 nhận lệnh điều động của Trung tâm taxi 12 đến phố Phan Bội Châu đón anh Trần Đức Long (người Thành phố Hồ Chí Minh) đến một số điểm du lịch trong Hà Nội. Buổi tối cùng ngày hai người vào nhà hàng Ngư Thuyền (phường Giảng Võ, quận Ba Đình) ăn tối, hát karaoke. Đến khoảng 23h, anh Long phát hiện mất ví tiền và nghi tiếp viên nhà hàng lấy. Nhân viên nhà hàng lại cho rằng khách định giở trò quỵt tiền. Hai bên đang tranh cãi thì 5-6 thanh niên cùng nhân viên nhà hàng Ngư Thuyền là Nguyễn Giang Phúc xông vào đánh hội chợ rất dã man hai anh Long, Khôi. Bọn côn đồ dùng búa đánh rách mặt anh Khôi khiến anh phải nhảy xuống hồ Giảng Võ, liền bị chúng lôi lên đánh tiếp. Sau đó, chúng nhốt hai người vào phòng kín, cướp một số tài sản riêng, đập phá xe taxi. Đến 4h20’ ngày 7-7 nhà hàng Ngư Thuyền cho phép anh Khôi liên lạc với Trung tâm điều hành taxi 12. Trung tâm cử người đưa anh Khôi vào bệnh viện Xanh Pôn cấp cứu trong tình trạng toàn thân bị thương tích, phải khâu 7 mũi ở mặt. Nhận được tin báo, Công an phường Giảng Võ đã đến hiện trường giải thoát anh Long, đưa một số đối tượng liên quan về cơ quan công an thẩm vấn.
Theo ông Đỗ Hiến, cán bộ công nhân viên Công ty Du lịch 12 rất phẫn nộ trước hành vi bắt giữ, đánh người dã man xảy ra ngay tại Hà Nội. Nội dung vụ việc đang được Công an quận Ba Đình làm rõ. Báo Tuần Du Lịch sẽ tiếp tục cung cấp cho bạn đọc những thông tin mới nhất trong số báo tới.
Những tín hiệu đáng mừng của du lịch Thanh Hóa
Nhân kỷ niệm 39 năm ngày thành lập ngành Du lịch Việt Nam (9-7-1960 – 9-7-1999) và hưởng ứng chương trình hành động động quốc gia về du lịch và các sự kiện du lịch năm 2000.
Ngành du lịch Thanh Hóa đã xây dựng và được Thường trực Ủy ban Nhân dân tỉnh thông qua “Chương trình hành động về Du lịch Thanh Hóa hướng tới thiên niên kỷ mới” đây là sự quan tâm của Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân đối với Du lịch Thanh Hóa, có ý nghĩa quan trọng cho những bước đi tiếp theo trong những năm tới. Cũng trong đợt này ngành Du lịch Thanh Hóa đã phát động thi đua trong các khách sạn lập nhiều thành tích chào mừng ngày Du lịch Việt Nam, với nhiều nội dung và hình thức phong phú như: tổ chức tọa đàm nhân ngày truyền thống của ngành – tổ chức nhiều hình thức tuyên truyền trên Đài, Báo, Truyền hình địa phương, treo Cờ tổ quốc, pa nô, áp phích, băng khẩu hiệu tại những nơi trang trọng nhiều người biết ở hai trung tâm lớn thành phố Thanh Hóa, thị xã Sầm Sơn, trong các khách sạn, đặc biệt tổ chức chương trình khuyến mãi ở các khách sạn trong ngày 9-7-1999 cho du khách.
Đây là bước khởi động cho những sự kiện Du lịch năm 2000 đang là nhiệm vụ trọng tâm của Du lịch Thanh Hóa.
Tin du lịch Hội An
Sáu tháng đầu năm 1999, thị xã đón 82.947 lượt khách đến tham quan trong đó có 37.051 lượt khách nước ngoài. Tổng doanh thu đạt 13,65 tỷ đồng bằng 51,4% kế hoạch năm 1999, tăng 34,58% so với cùng kỳ năm 1998.
Công suất sử dụng phòng bình quân đạt 53,86%. Đến nay, toàn thị xã có 16 khách sạn với tổng số 435 phòng đủ tiêu chuẩn đón khách quốc tế trong đó có 1 khách sạn 3 sao và 1 khách sạn 1 sao.
Tin du lịch Quảng Nam
Trong 6 tháng đầu năm 1999, ngành du lịch Quảng Nam đón được: 45.530 lượt khách đạt 52,33% kế hoạch năm 1999, bằng 130,81% so với cùng kỳ năm 1998 trong đó lượt khách quốc tế 34.294 lượt đạt 52,76% kế hoạch năm 1999, bằng 129,09% so với cùng kỳ năm 1998.
Tổng số ngày khách là 82,667 bằng 132,6% so với cùng kỳ năm 1998, trong đó số ngày khách quốc tế 67,819 bằng 136,27% so với cùng kỳ năm 1998. Tổng doanh thu trong 6 tháng đầu năm 1999 là 15.180 triệu đồng đạt 54,42% kế hoạch năm 1999, bằng 129,26% so với cùng kỳ năm 1998.
Cẩm Hà – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999