Lịch sử xuất hiện thìa – dĩa – dao ăn

Ngày nay, trên bàn ăn tại các khách sạn, nhà hàng hoặc trong mỗi gia đình, thìa – dĩa – dao ăn.. đã trở thành đồ dùng quá quen thuộc đối với tất cả mọi người. Nhưng mấy ai để ý rằng, chúng xuất hiện từ bao giờ?
Thời cổ đại, thức ăn được mang đến để cắt sẵn hoặc để nguyên cả con thú nướng chín, người ăn dùng tay xé và bốc thức ăn. Trong những điều kiện như vậy, các dụng cụ nhà ăn chưa được nghĩ đến…
Năm 1071, chiếc dĩa 2 ngạnh lần đầu tiên xuất hiện tại đám cưới của quốc vương Venexia (Italia) lấy cô gái xứ Vizantia. Cô dâu đã mang chiếc dĩa ăn từ Constantinopol đến tiệc cưới rồi sử dụng nó trước sự ngạc nhiên của tất cả quan khách đang ăn… bốc! Lúc đó chưa có ai bắt chước cô dâu Vizantia và người châu u vẫn như trước: Họ quen dùng tay tiếp xúc trực tiếp với thức ăn. Ngoài ra, thời kỳ này vẫn chưa dùng đĩa đựng thức ăn cá nhân. Đĩa thường dùng là tấm gỗ nhỏ. Đôi khi những lát bánh mì được sử dụng như chiếc đĩa. Chủ nhà dùng chiếc thìa duy nhất tiếp thức ăn cho khách, các cốc rượu vang xếp thành vòng tròn.
Tình hình bắt đầu thay đổi vào cuối thời kỳ Trung cổ, khi thợ kim hoàn nhận đơn đặt hàng của một số triều đình Hoàng gia châu u làm bộ đồ ăn (thìa – dĩa – dao – môi múc canh…) hình thức rất đẹp bằng… vàng. Tất nhiên những bộ đồ ăn quý đó không dùng để… ăn mà chủ yếu chỉ trưng bày như một thứ mốt nhà giàu!
Năm 1493 tại bữa tiệc nhân chuyến thăm của quận công phu nhân Beatriche Milamscaija đến thành Venexia, người ta đã cho bày 300 chiếc đĩa bằng vàng và vô số thìa dĩa trang trí, chạm trổ rất đẹp. Và để đề phòng các vị khách… “cầm nhầm”, quản gia đã cử người giám sát chặt chẽ từng bàn tiệc (thực tế đã xảy ra một số vụ mất trộm thìa dĩa bằng vàng ngay tại bữa tiệc!).
Xin nhớ rằng: tại buổi tiệc này, quan khách vẫn tiếp tục ăn theo phương pháp truyền thống (ăn bốc). Nghi thức lúc bấy giờ vẫn chưa thay đổi, cái chính là rửa sạch tay trước và sau khi ăn! (Ăn bốc bằng 3 ngón tay, ngón út không sử dụng đến)!
Năm 1518 nhà buôn lụa người Pháp tên là Jac Lesefe khi dự tiệc ở Venexia đã ngạc nhiên viết: “Ở đây người ta xơi thịt bằng những chiếc dĩa bạc tiện lợi”.
Năm 1580 theo sáng kiến của Vua Hendric III, dĩa xâm nhập từ Italia sang Pháp. Mãi đầu thế kỷ 19 đa số dĩa mới chỉ có 2 răng. Dĩa 4 răng xuất hiện trên bàn ăn vào năm 1880. Đầu thế kỷ 17 dĩa xuất hiện ở Anh rồi muộn hơn lan dần khắp châu u, nó là lãnh địa của những quý tộc giàu có.
Năm 1742, Tomas Banlzover ở Sheffild (Anh) đã chế tạo bộ đồ ăn rẻ tiền hơn làm bằng chất liệu bạc, đồng. Điều này dẫn đến bùng nổ việc sản xuất chúng trang bị cho khách sạn, nhà hàng, gia đình… Đã xuất hiện thìa uống cà phê, thìa uống trà đường có hình dạng ô van vào giữa thế kỷ 18, sau đó là dĩa cán cân, dao ăn chuyên dụng loại sắt và loại có răng cưa… Vậy là, cùng với sự ra đời của dao, thìa, dĩa, quan niệm dùng thức ăn không tiếp xúc với nó (ăn bốc hoặc dùng tay xé) đã chấm dứt.
NG. Đức Hải – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

Pata tăng cường hợp tác với Việt Nam

Pata tăng cường hợp tác với Việt Nam
Đã trở thành truyền thống, hằng năm Chi hội Pata đều nhận được sự giúp đỡ thiết thực của Pata Trung ương (TW) về lĩnh vực cung cấp thông tin, tuyên truyền quảng bá, đào tạo dưới các hình thức, tư vấn xây dựng các đề án phát triển.
Tiếp tục triển khai các chương trình hợp tác nói trên, mới đây, đại diện Ban chấp hành Chi hội Pata Việt Nam (có đại diện của hàng không Việt Nam) và Pata Trung ương, đã thống nhất 3 nội dung chính gồm: thành lập nhóm công tác khảo sát du lịch Việt Nam, tăng cường hợp tác giữa các cho hội Pata, xúc tiến xây dựng kế hoạch Việt Nam đăng cai tổ chức Diễn đàn Du lịch Mê Kông lần thứ 7 vào năm 2002.
Nhóm công tác gồm 5 chuyên gia của Pata Trung ương và một số đại diện của Việt Nam, sẽ khảo sát, đánh giá về sản phẩm du lịch văn hóa tại khu vực miền Bắc Việt Nam, tập trung vào Hà Nội và vùng lân cận. Thời gian thực hiện trong một tuần, vào cuối tháng 5 hoặc đầu tháng 6 năm 2001. Nhóm công tác sẽ tổ chức hội nghị cáo kết quả và đặt ra các vấn đề cần quan tâm. Ngay sau đó, Pata Trung ương sẽ giúp tiến hành khóa đào tạo cho Chi hội viên của Việt Nam vào thời gian diễn ra Đại hội thường niên Chi hội Pata Việt Nam, tương tự như khóa học ở Đà Nẵng tháng 7 năm 2000.
Để tăng cường sự hợp tác giữa các Chi hội Pata các quốc gia, Pata Việt Nam nhất trí về nguyên tắc với đề xuất của Pata Trung ương về việc thành lập Chi hội Pata khu vực Mê Kông. Đây là liên kết nhằm mục đích tăng cường xúc tiến du lịch vì lợi ích của các doanh nghiệp thành viên, giữa các Chi hội Việt Nam, Thái Lan, Myanmar, Lào, Campuchia, tỉnh Vân Nam Trung Quốc… Pata Trung ương cũng nhất trí sẽ hỗ trợ chi hội Pata Việt Nam đẩy mạnh quan hệ với các Chi hội tại các địa bàn khác xa hơn. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp du lịch Việt Nam mở rộng phạm vi đối tác liên kết làm ăn, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm của từng thị trường, khu vực cụ thể…hoàn toàn phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế của nền kinh tế đất nước.
Có khả năng du lịch Việt Nam có khả năng sẽ đăng cai Diễn đàn Du lịch Mê Kông lần thứ 7, dự kiến vào đầu tháng 4/2002, theo gợi ý của Pata. Đây là diễn đàn của Du lịch có uy tín do Pata, ADB (Ngân hàng phát triển Châu Á) và ESCAP (Ủy ban Kinh tế – Xã hội Châu Á – Thái Bình Dương) tổ chức thường niên theo thể thức luân phiên giữa các nước trong tiểu vùng Mê Kông. Đăng cai Diễn đàn này, Việt Nam có cơ hội quảng bá rộng rãi trong khu vực về mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội trong đó có du lịch.
Câu lạc bội các doanh nghiệp du lịch Hà Nội sinh hoạt thường kỳ thánh 3/2001.
Quý I – 2001, mức tăng thưởng về lượng khách du lịch quốc tế ngành Du lịch Hà Nội ước đạt 70%
Đây là lần đầu tiên trong buổi sinh hoạt thường kỳ của Câu lạc bộ các doanh nghiệp Du lịch Hà Nội, có đại diện Ban tài chính – Vật giá Chính phủ, Tổng cục Du lịch, Sở du lịch Hà Nội tham dự.
Phó Tổng công ty Tổng cục Du lịch Phạm Từ đã thông báo hình thành hoạt động du lịch trên thế giới, khu vực và trong nước. trong đó nhấn mạnh, Việt Nam và các nước trong khu vực đang là điểm hướng tới mở rộng thị trường của nhiều hãng du lịch trên thế giới.
Ông Nguyễn Quang Lân, Giám đốc Sở Du lịch Hà Nội cho biết, từ ngày 1/1 đến 12/3/2001, Du lịch Hà Nội đón 120.000 lượt khách du lịch quốc tế, vượt 20% so với cả 3 tháng đầu năm 2000. Dự kiến quý I năm 2001, ngành Du lịch Hà Nội sẽ đạt mức tăng trưởng về lượng khách quốc tế tới 70%. Đã có 18 quốc gia có lượng khách đến Việt Nam đạt con số 4 chữ số. Nếu năm 2000, lượng khách Trung Quốc chiếm vị trí đầu bảng, thì sang quý I năm nay thì phải chịu lùi xuống hàng thứ 2 với 15.193 lượt khách, Pháp đứng đầu bảng với 17.855 lượt khách. Các vị trí tiếp theo gồm: Nhật Bản đứng thứ 3 với 10.663 lượt khách, thứ 4 Mỹ với 8.811 lượt khách, thứ 5 Úc với 6.830 lượt khách. Ông Nguyễn Quang Lân lưu ý rằng, số khách trên đây chỉ là phản ánh 70% so với thực đến Hà Nội trong cùng thời gian.
Tại buổi sinh hoạt, các doanh nghiệp tiếp tục kiến nghị các vấn đề bất cập, giúp doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn đang tồn đọng như: giá điện, giá cước bưu điện trong kinh doanh khách sạn, 5% chênh lệch thuế vận chuyển khách… đnag làm tăng chi phí đầu vào của doanh nghiệp.
Hoàng Ly – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 12 (177) 2001

Việc đã rành rành, sao chưa xử lý

“Chúng tôi, các hộ dân hiện đang sinh sống ở ngõ 285, đường Trần Khát Chân, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, làm đơn kiến nghị với các cấp chính quyền địa phương và các phương tiện thông tin đại chúng, tố cáo việc lấn chiếm đất công, xây dựng trái phép, vi phạm pháp luật của ông Đỗ Thế Quốc số nhà 2, ngõ 285 đường Trần Khát Chân…”trên đây là một phần lá đơn kiến nghị mà các hộ dân gửi cho chúng tôi. Vậy cụ thể việc này ra sao?
Tại ngõ 285 Trần Khát Chân, một số hộ dân có giấy phép xây dựng nhà ở đã làm đơn xin phép chính quyền phường để được mượn tạm khu đất lưu để không dọc theo bờ tường của ngân hàng công thương do phường quản lý, thuộc đường đi chung của ngõ 285 để làm chỗ tập kết nguyên vật liệu xây dựng.
Lợi dụng khi các hộ xây dựng xong trả phần đất này lại cho phường, ông Đỗ Thế Quốc đã ngang nhiên chiếm hữu, xây dựng lán trại đẻ chứa vật liệu xây dựng và tự ý cho rằng khu đất thuộc quyền sở hữu của mình và có ý định sử dụng lâu dài phần đất này.
Ông Hoàng Ngọc Tú, tổ trưởng tổ 3A, phường Thanh Nhàn xác nhận: “Số hộ dân ở ngõ 285 đường Trần Khát Chân có đơn đề nghị về sự việc trên là đúng sự thật. đề nghị các cấp chính quyền xem xét và quả quyết việc lấn (chiếm) lối đi của dân”.
Sau khi quần chúng báo cáo với UBND phường, ngày 25/12/2000, UBND phường đã xử lý, lập biên bản, yêu cầu ông Quốc phải dỡ bỏ lán trại, khôi phục hiện trạng ban đầu, trả lại cảnh quan và đường đi cho lối xóm.
Nhưng từ đó đến nay, không hiểu vì lý do gì ông Quốc chẳng những không chấp hành mà còn cố tình xây dựng tường dọc theo lán. Theo phản ánh của bà con trong ngõ, việc này đã tạo điều kiện cho một số đối tượng nghiện hút dùng để tiêm chích ma túy, trộm cắp tài sản của các hộ dân trong khu vực.
Buông lỏng quản lý hay cố tình bao che?
Chúng tôi đã làm việc với Ủy ban nhân dân phường Thanh Nhàn. Ông Vũ Văn Luyện, Chủ tịch phường cho chúng tôi xem đơn, thư của ông Đỗ Thế Quốc trình bày về chủ quyền của mình đối với khu đất trên. Tuy nhiên, ngày ông Luyện cũng phải thừa nhận: giấy tờ nhà đất (văn tự đoạn mãi ngày 23/05/1958 đứng tên chủ mau là ông Đỗ Thế Lập là ông nội của ông Quốc) mà ông Đỗ Thế Quốc trình Ủy ban nhân dân phường cũng chưa chứng minh được khu đất trên thuộc quyền sở hữu của gia đình ông Quốc.
Như vậy,sự việc đã rõ. Vấn đề ở chỗ, mọi thứ đã rành rành, tại sao UBND phường Thanh Nhàn vẫn không được thực hiện giải tỏa khu lấn chiếm? Ông Luyện giải thích: Chúng tôi còn phải xác minh đất ấy thuộc về ai đã.
Chúng tôi thiết nghĩ: không thuộc sở hữu của ông Quốc, có nghĩa là đất công. Vả lại, UBND phường đã từng xử lý, lập biên bản và yêu cầu dỡ bỏ, vậy cũng không có lý do gì để trì hoãn.
Trước sự việc nêu trên, dư luận dấy lên một câu hỏi: không giải quyết dứt điểm, phải chăng do Ủy ban nhân dân phường Thanh Nhàn buông lỏng quản lý, hay đang cố tình bao che vì những mục đích khác.
Tuyển sinh đào tạo công nhân kỹ thuật khách sạn nhà hàng.
Công ty Du lịch dịch vụ Hải Phòng HaiPhong Toserco.
Trường Trung học chuyên nghiệp dịch vụ Du lịch Hà Nội – Tổng cục Du lịch phối hợp với Công ty Du lịch dịch vụ Hải Phòng mở lớp tại Hải Phòng đào tạo các nghề sau:
Kỹ thuật nghiệp vụ chế biến món ăn.
Kỹ thuật nghiệp vụ lễ tân – bàn – Bar – Buồng.
Nghiệp vụ pha chế cocktail có nâng cao bằng nguyên liệu hoa quả Việt Nam (giáo viên chuyên gia nước ngoài dạy)
Đối tượng đào tạo.
Tốt nghiệp phổ công cơ sở trở lên, sức khỏe tốt. Riêng nghiệp vụ lễ tân phải tốt nghiệp THPT, ngoại ngữ A.
Thời gian đào tạo: 4 tháng ( có lớp trong giờ và có lớp ngoài giờ hành chính)
Giáo viên: Trừơng trung học nghiệp vụ Du lịch Hà Nội – Tổng cục du lịch Việt Nam giảng dạy.
Bằng chứng nhận nghề quốc gia do Trường trung học nghiệp vụ du lịch Hà Nội – Tổng cục du lịch Việt Nam cấp.
Nhận hồ sơ đến hết ngày 30/03/2001 .
Địa chỉ liên hệ” Công ty Du lịch Dịch vụ Hải Phòng, 40 TrẦN Quang Khải, Hải Phòng.
Hạ Hòa – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11(176) 2001

Hành hương lên yên tử – Phần 2

Năm nay, khâu dịch vụ cũng văn minh, lịch sự và chu đáo hơn. Việc đầu tiên là sắm một chiếc gậy trúc dài khoảng 1,2m, vừa tầm tay để chống, với giá 500đ/chiếc từ “đội quân dịch vụ” tự do – giá rẻ mà không nài ép. Tiếp đến là đội quân gánh thuê, lăm lăm chiếc đòn gánh trong tay, quần áo nai nịt gọn gàng, phần lớn là các chị phụ nữ trung tuổi, cũng có cả những cậu thanh niên mới lớn. Họ sẵn sàng gánh thuê đồ tế lễ, quần áo rét khi leo núi phải cởi bớt ra và các đồ ăn thức uống mang kèm theo. Giá cả thỏa thuận: 1 gánh từ chùa Giải Oan lên chùa Hoa Yên giá 40.000đ, gánh thẳng lên chùa Đồng là 70.000đ – 80.000đ. Lại có cả dịch vụ dắt thuê nữa: dắt một cụ già chân Yên Tử lên Hoa Yên giá 15.000đ, lên tận chùa Đồng là 30.000đ/người. Lại còn dịch vụ cho thuê giầy ba-ta, giầy leo núi và vì thế có luôn dịch vụ trông đồ hộ, trông giầy dép gửi lại khi lên núi. Ai buồn ngủ trưa, có dịch vụ nằm trên sàn giá 5.000 đồng/người. Ngủ qua đêm thì 20.000 – 30.000 đồng/người. Ban ngày ở Hoa Viên có dịch vụ cho thuê chiếu giá 10.000 – 20.000 đồng/cái.
Một dãy kiốt, nhà hàng mọc lên từ năm ngoái đến giờ vẫn duy trì tốt và mở rộng diện phục vụ khách, chất lượng cơm phở ở đây không thua kém ở dưới thị xã. Đương nhiên do vận chuyển lên cao, giá thành ở đây thường gấp rưỡi so với thành phố. Tuy vậy, khách vẫn vui vẻ chấp nhận.
KẾ HOẠCH TRÙNG TU – TÔN TẠO TRONG NĂM 2001
Trong hơn 700 năm tồn tại của Yên Tử, thời gian và con người đã làm hư hại, thậm chí hủy hoại khu di tích quá nhiều. Chùa Hoa Yên đã bị cháy mấy lần. Ngôi chùa hiện chẳng qua là một ngôi nhà cấp IV, mới được dựng nên cách đây hơn 3 thập kỷ. Vấn đề bức xúc nhất hiện nay là xây dựng (chứ không phải chỉ là trùng tu) một chùa Hoa Yên mới, đương nhiên theo dáng kiến trúc cổ điển. Điều này đã được Ủy ban nhân dân thị xã Uông Bi quan tâm, trăn trở từ lâu. Đến nay, thiết kế tổng thể quy hoạch tôn tạo chùa Hoa Yên đã được Bộ Văn hóa – Thông tin phê duyệt. Theo đó, những công trình kiến trúc hiện có trên mặt bằng Hoa Yên sẽ được xóa sạch để tôn tạo một mặt bằng vuông vức, rộng rãi. Và trên đó sẽ tọa lạc ngôi chùa cổ kính có mái cong theo lối kiến trúc Việt Nam thời Trần – Lê. Xung quanh có các tòa ngang dẫy dọc là những địa điểm phục vụ cho việc hành lễ, là nơi trụ trì của tăng ni. Năm nay Yên Tử được nhà nước duyệt chi 1 tỷ đồng để bắt đầu tôn tạo chùa Hoa Yên.
Công trình thứ hai cũng nằm trong tầm tay của những năm tới là hợp tác với nước ngoài làm một đường cáp treo đưa khách từ chân Yên Tử lên chùa Hoa Yên. Việc này Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho Công ty Xuât nhập khẩu Quảng Ninh (QUNIMEX) làm đối tác phía Việt Nam, chịu trách nhiệm phối hợp với đối tác nước ngoài để thực thi. Việc làm đường cáp treo phải thực hiện với điều kiện đừng làm ảnh hưởng ít nhất tới môi trường và cảnh quan. Nếu thành công thì lượng khách nước ngoài tới Yên Tử chắc chắn sẽ tăng vọt.
Năm 2001 còn dự kiến sẽ làm một “Sân hành lễ” ở phía trước chùa Đồng, làm bể hóa sớ ở khu vực Hoa Yên, củng cố, tu bổ lại những bát hương lớn, những bảo tháp đã bị xuống cấp… Hiện tại chưa thể kể hết các công trình sẽ được thực thi năm 2001, bởi nhiều công trình còn đang được thiết kế.
Hy vọng mùa xuân Nhâm Ngọ – 2002, du khách sẽ được thưởng ngoạn, được hành hương lên một Yên Tử hoành tráng hơn, khang trang hơn.
Hảo Minh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 15(180)2001

Hành hương lên yên tử – Phần 1

Con đường sỏi đá, ổ trâu, ổ gà và chật hẹp từ Dốc Đỏ vào đến chân chùa Giải Oan của những năm xưa đã biến mất. Thay vào đó là con đường bê tông dài gần 20 km, rộng 3,5 – 4m, từ Dốc Đỏ vào Yên Tử. Hai bên đường màu đất đỏ còn mới tinh khôi, những bờ ta-luy phẳng lì, như có một nhát chém thật sắt vào thành núi, tạo nên những mảng, khối vàng nhạt nổi bật trên nền xanh ngắt của rừng thông. Những chiếc cầu xi măng chắc chắn đã thay cho những đập tràn tạm bợ các năm trước. Vĩnh viễn qua rồi cảnh người đi hành hương phải xắn quần móng lợn mà dắt xe đạp, xe máy qua những đoạn suối chảy ào ào, còn ô tô lắc lư qua suối, làm tung tóe nước lên những người hành hương…
Một công trình độc đáo mới hoàn thành vào cuối năm 2000 là cây cầu đá qua suối Giải Oan mà ngân sách thị xã đã đầu tư trên 700 triệu đồng. Toàn bộ cây cầu ghép bằng những cột đá, xà đá, tảng đá xanh đã được gia công, chạm trổ khá công phu theo kiến trúc cổ. Cây cầu đá dài 11m, rộng chừng 2m, bắc qua dòng suối, tạo nên cảnh thơ mộng và cổ kính. Khách hành hương có thể đi qua cầu, hay qua suối là tùy thích. Cầu Giải Oan như điểm nhấn đầu tiên cho toàn bộ quần thể kiến trúc Yên Tử.
Công trình thứ 2 cũng vừa mới hoàn thành trước Tết Tân Tỵ là Cổng Tam Quan. Mấy năm qua, Ban quản lý di tích Yên Tử cho dựng tạm Tam Quang bằng gỗ. Trước Tết Tân Tỵ, Ban quản lý đã cho thiết kế lại to hơn và sử dụng chất liệu xi măng, ngói đỏ loại vẩy cá để tạo lại Tam Quang mới. Dù kiểu cách Tam Quan mới trông có vẻ “tân thời”, nhưng dù sao cũng đóng vai trò một kiến trúc nổi bật, mở đầu tuyến đường hành hương lên Yên Tử.
Công trình thứ 3 phải kể đến là toàn bộ tuyến đường từ chùa Giải Oan lên chùa Hoa Yên dài hơn 1.700m, đã được kè lại bằng đá, có mở rộng tuyến đi khoảng 2,0m (trước đây chỉ rộng 1,2-1,5m), với trên 3.000 bậc đá. Bây giờ người lên, kẻ xuống không phải chờ nhau như trước, cứ nườm nượp mà đi, không sợ trượt ngã.
“ĐƯỜNG TRÚC” – “ĐƯỜNG TÙNG” ĐỀU DẪN LÊN HOA YÊN
Một điều thú vị là năm nay, du khách đến đoạn đầu đường Tùng gặp một con đường rẽ trái, cũng hướng lên núi, được kè đá đẹp mắt, có biển nhỏ đề: “Đường tránh đường Tùng”. Ông Trần Trương, Trưởng ban quản lý di tích cho biết: con đường này song song với đường Tùng ở cự ly 20-30m, dài khoảng 200m, là nhằm bảo vệ đường Tùng, giảm bớt cường độ đi qua đường Tùng, đương nhiên cũng dẫn đến Chùa Hoa Yên (bây giờ những bộ rễ trơ trọi của những cây Tùng có tuổi thọ trên 700 năm đã được Ban quản lý di tích Yên Tử cho đắp lại, xếp lại bậc đá để giữ ấm cho những bộ rễ quý giá). Một giải pháp trung hòa được chấp nhận là cứ để cho du khách đi cả theo đường cũ lẫn đường mới, vẫn có thể thưởng ngoạn cảnh đẹp của đường Tùng.
Thiết nghĩ: có thể đặt tên con đường mới là đường Trúc chẳng hạn và đầu đường nên ghi rõ: “Đường Trúc lên Hoa Yên” cho khách tham quan khỏi bỡ ngỡ. Đường này xứng đáng được gọi tên như thế vì 2 bên đường là những cây trúc thon thả, xanh mướt, thẳng tắp, hướng lên trời. Bên cạnh đường Tùng lại có đường Trúc thì cảnh quan càng thêm thơ mộng!
Thật không thể kể hết những hạn mục, những công trình đã được thực hiện trong năm 2000 với tổng số vốn đầu tư khá lớn: 10 tỷ đồng, trong đó lấy từ nguồn thu phí tham quan Yên Tử là 1,3 tỷ đồng. Phần còn lại do Trung ương và tỉnh cấp. Có thể nói bộ mặt khu di tích Yên Tử năm nay đã khang trang hơn, chỉnh chu hơn trước rất nhiều, xứng đáng để bước vào Thiên niên kỷ mới. Du khách đến Yên Tử năm nay rất hài lòng với quan cảnh gọn gàng, ngăn nắp của khu danh sơn, cộng vào nữa là cách điều hành khá khoa học của Ban quản lý di tích Yên Tử.
Hảo Minh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 15(180)2001

Mỹ Tâm hành trình kiên nhẫn

Góp phần vào giải ba của Việt Nam tại Liên hoan m nhac Châu Á (Voice of Asia) dành chi những giọng ca trẻ của Châu Á được tổ chức tại Thượng Hải (Trung Quốc) vừa qua là cô ca sĩ còn trẻ ca sĩ: Mỹ Tâm. Trả lời phỏng vấn với baó chí, Mỹ Tâm luôn nhắc: xin dành vinh dự này cho tất cả những người yêu nhạc.
Những năm cấp 1, cấp 2 Mỹ Tâm học trường Hoàng Diệu (Đà Nẵng). tuổi thơ của cô diễn ra êm đềm, bình dị với những hoài bão là được hát. Học hết lớp 7, Mỹ Tâm rời Đà Nẵng vào Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó, cô đã nuôi lớn giấc mơ biến năng khiếu ca hát thành một nghề cô yêu thích. Mỹ Tâm đánh đầu thành công đầu tiên bằng giải nhất giọng ca vàng báo mực tím (1998) vơi hai ca khúc “Em ơi, Hà Nội phố” và “Nhớ mùa thu Hà Nội”. Đến nay, Mỹ Tâm đã xuất hiện trên 6 CD của các hãng băng đĩa tại Thành phố Hồ Chí Minh. Với một ca sĩ trẻ như Mỹ Tâm, kinh nghiệm ca hát chưa nhiều, nhưng cô đã óc mộ ý chí mà giới ca hát chuyên nghiệp cho là hiếm hoi giữa số đông những ca sĩ trẻ. Nếu ai đó mơ hát, nôn nóng lao vào cuộc đua để trở thành ngôi sao với vốn liếng ban đầu chỉ vài ba ca khúc ruột, thì Mỹ Tâm khắc khe hơn chắc lọc cho mình một hành trang ca hát. Cô rất siêng tậ bài mới, thích siêu tầm từ nhạc ngoại đến các ca khúc của những nhạc trẻ trong nước. Từng là ca sĩ độc quyền của Vafaco, dưới sự hướng dẫn về nhạc nhẹ của nhạc sĩ Nguyễn Hà, Nguyễn Quang…
So với các ca sĩ hiện nay, Mỹ Tâm đã tạo được ấn tượng riêng khi tự sáng tác, biểu diễn ca khúc của chính mình. “Mĩa yêu” là ca khúc đầu tiên mà Mỹ Tâm viết với sự giúp đỡ của nhạc sĩ Nguyễn Quang. Chính ca khúc này giúp Mỹ Tâm đoạt giải 3 tại liên hoan m nhạc châu Á bằng chất giọng mezz utto kết hợp với phong cách biểu diễn tự nhiên.
Mỹ tâm nghiên cứu từng chi tiết với nghề ca hát ngày càng yêu nghè hơn. Cô luôn nhớ lời của thầy – nghệ sĩ ưu tú Quốc Trụ: “Em phải biêt nhìn lại mình ở nất thang nào”. Đi theo điều tâm niệm đó, Mỹ Tâm chưa bao giờ giám nghĩ cô đã thành công, vì “quá trình thành đạt ở bất cứ nghề nghiệp nào cũng như một cuộc hành trình kiên nhẫn mà đỉnh dốc phía trước bao giờ cũng cao hơn đỉnh dốc mà mình đã vượt qua.
Tuyển tập thơ Việt Nam 1975 – 2000.
Tuyển tập thơ Việt Nam 1975 – 2000, gồm 3 tập do Nhà xuất bản Hội Nhà văn nhận theo đơn đặt hàng của Nhà nước với số lượng 500 cuốn. Nhưng do nhu cầu của bạn đọc yêu thơ, Nhà xuất bản đã in thêm 300 cuốn. Tuyển tập thơ Việt Nam 1975 – 2000 là công trình được tuyển chọn công phu từ những bài thơ hay của các nhà thơ chuyên nghiệp và không chuyên trên cả nước do Hội đồng biên tập gòm các nhà thơ: Vũ Quần Phương, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Phan Hách, Lê Thành Nghi… tuyển chọn.
Sách có bán tại các nhà sách Tràng Tiền và Nhà xuất bản Hội Nhà văn tại 56 phố Nguyễn Du bạn đọc sẽ được giảm phí phát hành.
Đăng cai thi hoa hậu để thu hút du khách
Chính phủ Pueto Rico đã chi 2,5 triệu USD để đăng cai cuộc thi hoa hậu hoàn vũ năm 2001, dự định diễn ra vào tháng 4 tơi. Mục đích của việc này là để thu hút khách. Ưóc tính sẽ có hàng nghìn nhà báo, cổ động viên cho các hoa hậu đến tham dự cuộ thi. 10.000 phòng khách sạn đã sẵn sàng cho sự kiện văn hóa lớn này.

Trương Hoàng Phú – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11(176)2001

Những chuyện tiếu lâm hay nhất thế giới

Doanh nghiệp nọ mở tiệc chiêu đãi một đoàn khách nước ngoài. Ông giám đốc sau khi nói những lời chào mừng nồng nhiệt, thông qua phiên dịch, tỏ ra thân thiện, chỉ cốc bia hội trưởng đoàn bạn “ực, ực, tốt?” Ông trưởng đoàn bạn gật đầu.
Sau khi ăn một lúc, vị giám đốc lại hỏi trưởng đoàn bạn “măm măm, tốt?”
Vị khách quốc tế lại gật đầu.
Tiệc tàn. Trưởng đoàn khách đứng lên cảm ơn. Ông nói tiếng việt rất sõi. Sau một hồi tràng giang đại hải, ông hỏi ông giám đốc chủ nhà: “Bao la, tốt?”
Khi máy bay săp hạ cánh, giọng cơ trưởng vang lên qua hệ thống phóng thanh: “Thưa quý khách, chỉ ít phút nữa máy bay của chúng ta sẽ hạ cánh ở sân bay Neapel. Đề nghị quý khách nhớ cài chặt ví”
Trong tiếng chiêng hò reo ầm ĩ trong rừng rậm châu Phi. Một khách du lịch nước ngoài ngơ ngác lo lắng hỏi: “Có chiến tranh hay bọn mọi ăn thịt người?”
Người hướng dẫn viên du lịch bình tĩnh đáp: “Thưa không. Đấy là hiệu lệnh báo động cho chị em ở trong bản “Cởi quần áo, trương bản giá lên, khách du lịch đã đến!”.
Một người Anh và một người Mỹ ngồi trong quán rượu ở Luân Đon. Người Mỹ luôn mồn chế giễu, chê bai lối sông, phong tục, tập quán của người Anh: “Các vị ở đây sống hàng năm tác biệt vói thế giới bên ngoài, vì thế, biểu hiện đồng huyết nỗi lên quá rõ. Đã đến lúc Anh phải có những dòng máu mới. Hãy lấy tôi làm ví dụ, trong huyết quản tôi có dòng máu Nga, Tây Ban Nha, Hy Lạp và Italia!” Người Anh nhướm mặt gật gật đầu: “Xin bái phục, cụ bà nhà bác thật là giỏi”.
Từ năm 400 đến năm 280 trước công nguyên
Vào những thế kỷ trước công nguyên, người Hy Lạp và người La Mã đã sáng chế ra nhiều máy móc. Tuy nhiên vì các công trường thủ công được tồn tại trên cơ sở bóc lột người nô lệ nên những sáng chế, phát minh không được xã hội khuyến khích phát triển. thời kỳ này người La Mã và người Huy Lạp chú ý phát triển các kênh đào thủy lợi, hải cảng và đường giao thông trong đế quốc của họ.
Năm 400 trước CN: Người Hy Lạp phát minh ra máy bắn đá và cung tên, Năm 149 trước CN, người La Mã đã dùng loại vũ khí này để bảo vệ thành Các-ta-dơ có hiệu quả.
Năm 384 trước CN: Nhà triết học nổi tiếng thời cổ đại chào đời.
Năm 310 trước CN: Nhà thiên văn học Hy Lạp Aritxtắc chào đời. Ông phát biểu quan điểm cho rằng Trái đât quay xung quanh Mặt trời và phải 17 thế kỷ sau, nhà thiên văn học Côpéc – ních người Ba Lan mới nêu lên quan điểm trùng với Aritxtắc. Thời Côpécních, nhà thờ coi thuyết “Trái đát quay xung quanh Mặt trời” là một tà đạo, phản lại ý chúa và bị tội thiêu sống. Đồng thời Arítxtắc cũng nêu lên kích thước Mặt trăng, khoảng cách Mặt trời, Maretj trăng đối với Trái đất. Côpécních nêu lên quan điểm Trái đất chuyển động quanh Mặt trời và chuyển động tự quay.
Năm 284 trước CN: Êratôtxten – nhà toán học, thiên văn học người Hy Lạp chào đời. Ông đã đo gần đúng chu vi Trái đất.
Năm 280 trước CN: Vua Ai Cập Ptoolêmê II sai người xây dựng một tháp cao trên 130 m ở đảo Pharốt đối diện cảng Alêchzănđơri. Trên đỉnh tháp ông đốt lửa và dùng một gương lớn phản chiếu ánh sáng chiếu xa ra ngoài vinh tới 55km.
Êratôt xten đo chu vi trái đất.
Êratôt xten đã làm thực nghiệm chu vi Trái đất như sau:
Ngày hạ chí Mặt trời chiếu thẳng góc xuống đáy một cái giếng ở Syen (nay là Atxuam) và bờ bờ giếng không có bóng vào lúc giữa trưa.
Cùng ngày hôm đó và cùng giờ đó, Mặt trời chiếu vào ngọn tháp ở Alêchzănđơri , tia nắng vào tháp tạo thành hình góc 7 độ.
Góc 7 độ tương ứng một cung chắn bằng 1/50 chu vi Trái đất tính theo đường kinh tuyến trái đất.
Khoảng cách thực tế giữa Syen và Alêchzănđơri là 5.000 stát (một stát = 148m).
Qua tính toán và điều chỉnh, Êratôt xtentuyên bố chu vi Trái đất tính theo đường kinh tuyến là 40.000km. Ngày nay vơi spheps đo chính xác là 40.008km, sai lệch so với phép đo thời Cổ đại của Êratôt xten là 8 km.
Trịnh Hiếu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 11(176)2001

Hang động giả sự tồn tại các “Sư hổ mang” (Phần 3)

Ông Bùi Thanh Thoát – Trưởng phòng văn hóa thông tin huyện Mỹ Đức, tổ phó tổ công tác có ý kiến : “Những điểm nào đẹp, có quy mô lớn nên đưa vào sử dụng để làm giãn tuyến chính”. Bên cạnh đó, có một số ý kiến của lãnh đạo huyện và xã cho rằng” Các điểm như đền Mẫu Thượng, động Tiên, chùa Hinh Hương, đền chùa Cây Khế, động Hồng Sơn đã đi vào tín ngưỡng của nhân dân địa phương, ngày rằm, mồng một họ vẫn ra cúng lễ thì cho tồn tại. Nhưng ông Nguyễn Văn Túy Thanh tra sở Văn hóa – Thông tin Hà Tây có quan điểm: Phải làm đúng theo quyết định 47 QĐ/UB của UBND tỉnh Hà Tây, tức là xử lý 42 điểm trái phép. Vậy thực tế lãnh đạo huyện Mỹ Đức và xã Hương Sơn đã có một “phương thuốc” hữu hiệu nào để giải quyết 42 điểm này hay chưa? Chiều ngày 8/2 ông Trịnh Thế Khiết – Chủ tịch UBND huyện Mỹ Đức, Trưởng ban tổ chức lễ hội cho biết: “Chúng tôi sẽ tiến hành niêm phong 42 điểm quy phạm nói trên theo quy định của pháp luật. Có biện pháp xử lý nghiêm những người cố tình làm trái quyết định của tỉnh của huyện bằng hình thức cưỡng chế”.
Thăm dò ý kiến của nhân dân, hầu hết đều chung nguyện vọng: Ban quản lý nên điểm tên những hang, động, đền, chùa giả lên loa phát thanh.
Trong buổi họp báo về lễ hội chùa Hương 2001 diễn ra vào ngày 17/1/2001, lãnh đạo huyện Mỹ Đức có nói: Phòng thông tin tuyên truyền sẽ có các chương trình phát thanh giới thiệu về thắng cảnh Hương Sơn, đồng thời sẽ điểm tên những hang động đền, chùa giả. Và ở những điểm gây được sự chú ý cho du khách, chúng tôi sẽ đặt sơ đồ của khu thắng cảnh. Nhưng khi đến đây người ta chỉ nghe loa “quảng cáo” các loại bánh mỳ, bánh ngọt của hang Thanh Hoa, Hải Hà, loa mời công đức… Đài phát thanh của ban quản lý chỉ phát băng, đĩa nhạc. Còn sơ đồ khu thắng cảnh phải vào đến tận sân chùa Thiên Trù mới có! Theo sơ đồ này, chúng tôi thấy có 21 điểm được đánh dấu (trong đó có 20 điểm có tên, 1 điểm chưa có tên) ; nhưng theo sách giới thiệu về khu vực thắng cảnh Hương Sơn chỉ có 18 điểm được nhà nước công nhận. Vậy cho biết tin báo sách hay tin vào sơ đồ khu thắng cảnh Hương Sơn của Phòng Văn hóa – Thông tin Mỹ Đức.
Ở đây lại đặt ra một vấn đề: Những lời hứa của lạnh đạo tỉnh, huyện trong cuộc họp báo đã không thực hiện được, thì các quyết định đã ký có được thực hiện không? Liệu còn xảy ra tình trạng “bắt cóc bỏ đĩa” , “lấy đá nén xuống ao bèo tấm” như những lần trước? Nhân dân cả nước đang chờ đợi việc làm kien quyết dứt điểm của UBND huyện Mỹ Đức để chấm dứt tình trạng “buôn thần bán thánh”, lừa gạt du khách khi đến nơi đất phật và trả lại vẻ đẹp vốn có cho di tích thắng cảnh Hương Sơn.
Du lịch trên kênh đào Erie
Vào đầu thế kỷ 19, kênh đào là một trong những phương tiện giao thông quan trọng của khách hàng lẫn hàng hóa và cũng tạo cho du khách đường thủy phát triển.
Kênh đào Erie là kênh đào nổi tiếng nhất nước Mỹ, được khởi công năm 1817. Sau 8 năm lao động vất vả của hàng trăm công nhân, kênh được hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 1825. Kênh Erie chạy suốt từ sông Hudson ở Albany (New York) đến hồ Erie ở Buffalo Dài 363 dặm (khoảng 584km).
Đi du lịch bằng thuyền trên kênh Erie rất thú vị nhưng cũng có những bất tiện, đó là phần lớn các cầu trên kênh đào đều thaapss, do đó khi đi qua các cầu trên kênh đào , hành khách nằm bẹp xuống hoặc chị nguy cơ bị “quét” khỏi tàu. Mặc dù có những bất tiện trên, nhưng kênh đào Erie hàng năm vẫn thu hút được nhiều khách du lịch đến thăm quan.
Quảng Bình : Du lịch là một trong bốn chương trình kinh tế trọng điểm.
Lượng khách đến thăm quan Quảng Bình năm 2000 đạt 22 vạn lượt, đạt 108% so với kế hoạch, tăng 21% so với năm 1999. Trong đó khách quốc tế tăng 37%. Doanh thu tăng 10% so với năm 1999. Khách du lịch đến thăm quan động Phong Nha. Động Tiên Sơn là 11 vạn lượng khách, tăng 32% ó với năm 1999.
Hoạt động Du lịch đã nộp ngân sách 3,5 tỷ đồng, tăng 34% so với năm 1999. Năm 2001. Quảng Bình phấn đấu đón 250.000 lượt khách, trong đó có 5.000 khách quốc tế, doanh thu về du lịch tăng 15% so với năm 2000.
Tỉnh đã xác định 4 chương trình kinh tế trọng điểm là: xuất khẩu , du lịch, phát triển ngành nghề ở nông thôn và đánh bắt, nuôi trồng hải sản. Đây là thời cơ, vận hội để Du lịch Quảng Bình phát triển bền vững và đi lên.
Diệp Hiền Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 7(172)2001

Hang động giả sự tồn tại các “Sư hổ mang” (Phần 2)

Lượng khách nước ngoài đến với lễ hội chùa Hương cũng không phải là nhỏ. Đến chùa Hương ngoài mục đích thăm cảnh đẹp của thiên nhiên, họ cũng có tâm lý cầu lộc, cầu tài cho gia đình, bạn bè. Nhưng đến đây, họ sẽ nghĩ gì khi thấy đền, chùa, hang, động giả nhiều hơn động thật (theo sơ đồ thắng cảnh Hương Sơn hiện nơi đây có 18 hang động đền thờ được nhà nước công nhận). Vợ chồng ông bà Alena ( quốc tịch Đức ) phàn nàn: “Phật giáo luôn khuyên người ta ăn ở hiền lành, không được gian dối. thế mà họ lại gian dối với cả đức Phật , còn khách như chúng tôi cảm thấy đau lòng vì bị lừa ngay ở chốn tâm linh”. Thượng tọa Thích Viên Thành – trụ trì chùa Hương cho biết: “Những ngày đầu của lễ hội chùa Hương năm nay ít khách hơn so với mọi năm. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là sự tồn tại của 42 hang động đền chùa giả. Đây là một sự xúc phạm lớn đến Phật giáo. Chúng tôi đã kiến nghị nhiều đến các cơ quan chức năng nhưng kiến nghị vẫn chỉ là… “kiến nghị”.
Bao giờ quyết định trên giấy đuợc thực thi?
Một điều lạ là: tại sao lúc họ vận chuyển nguyên vật liệu vào để xây dựng, chính quyền sở tại không kịp thời ngăn chặn và xử lý? Chẳng lẽ, chở nguyên vật liệu để xây một ngôi chùa rộng 159.5m2 như vậy tại động Phật Tích của ông Nguyễn Văn Đạo mà chính quyền địa phương cũng không biết chăng? Để chùa giả này nối tiếp động chùa giả kia, nguời xây sau cứ nhìn nguời xây truớc mà “kém miếng khó chịu” Thế là “nó xây mình cũng xây”.
Thực chất, các cấp lãnh đạo từ tỉnh đến xã đã xử phạt một số điểm: Đền suối Giải Oan của ông Nguyễn Hữu Nhu; tỉnh có công văn chỉ đạo và UBND huyện ra quyết định niêm phong, Động Tuyết Quỳnh – công an huyện xử phạt 1 triệu đồng, Động Hương Quang của Bùi Văn Sản phạt 600 ngàn đồng năm 1995… còn “giữ nguyên hiện trạng”. Thật nực cười, chùa động này được hoàn thiện năm 1996, thế mà đến tận năm 2000 mới thành lập biên bản lại cho, “giữ nguyên hiện trạng”. Để tiếp tục cho kinh doanh hay sao? Tất cả những hình thức xử lý của các cấp lãnh đạo từ tỉnh đến xã đều chưa triệt để, chỉ là “bắt cóc bỏ đĩa”, nộp phạt xong “ chủ nhang” vẫn được hoạt động công khai. Điều nay gây nên sự bất bình đẳng lớn đối với nhân dân. Trước tình trạng này ngày 10/1/2001 UBND tỉnh Hà Tây ra quyết định số 47QĐ/UB về việc xử lý công trình xây dựng và khai thác hang động vi phạm pháp luật trong khu vực di tích thắng cảnh Hương Sơn. Ông Lê Văn Nguyên – Phó Chủ tịch UBND huyện Mỹ Đức, phó ban thường trực lễ hội cho biết: ”Sau khi có quyết định của tỉnh, chúng tôi gọi 32 chủ nhang của 42 điểm giả đến để yêu cầu không được phép tổ chức kinh doanh. Nhưng vắng mặt chúng tôi, họ lại ngang nhiên hoạt động,…”. Trước sự bức xúc, kêu ca của du khách, ngày 4/2/2001 UBND huyện Mỹ Đức ra quyết định số 41/2001/QĐ – UB đình chỉ hoạt động 42 điểm nói trên. Cùng ngày UBND huyện ra quyết định số 47QĐ/UB thành lập tổ công tác thực hiện quyết định số 47QĐ/UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây. Cho đến ngày 4/2 khi tổ công tác thành lập thì vẫn chưa có quan điểm nhất quán về biện pháp xử lý những hang đền, chùa giả.
Diệp Hiền Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 7(172)2001

Hang động giả sự tồn tại các “Sư hổ mang” (Phần 1)

LTS: Lễ hội chùa Hương đã diễn ra được gần 1 tháng. Trước ngày khai hội, UBND huyện Mỹ Đức đã tổ chức một cuộc họp báo bàn về việc tổ chức lễ hội chùa Hương 2001. Trong buổi họp báo, lãnh đạo từ tỉnh đến huyện hứa hẹn sẽ giải quyết một loạt những tồn tại hang động giả, nạn ô nhiễm môi trường, ăn mày ăn xin… Nhưng nhiều du khách sau khi trảy hội về rất phiền lòng, đã gửi thư ánh đến tòa soạn. Để làm rõ vấn đề này, chúng tôi đã cử tổ phóng viên điều tra về địa phương tìm hiểu giả, thật bất phân minh!
Trước hết, cần khẳng định một điều chắc chắn rằng: Tính đến ngày 9/2, 42 hang động, đền thờ giả ở khu thắng cảnh Hương Sơn vẫn “sừng sững” tồn tại. Phần lớn du khách thập phương đến chùa Hương đều cung tiến nhầm vào những điểm giả mạo này. Trong số đó, nhiều người biết đền động giả vì chủ nhân của nó xây dựng y như… “thật” nên khách không thể phân biệt được thật giả. Vậy là thôi, đã bước chân đến đất phật thì cứ “thành tâm” hết thảy. Chị Lan Anh (du khách đến từ quận 6, TP. Hồ Chí Minh) bộc bạch: “Cũng biết chùa Hương có đền chùa giả, nhưng tôi không thể phân biệt được đâu là thật giả đâu là giả. Cũng nghi nghi ở một số điểm nhưng lại sợ đó là thật thì sao. Thôi, đã cất công ra đây thì cứ lễ bái thành tâm hết cho “chắc ăn”. Còn chị Lê Thị Thu (quê ở Đông Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương) than vãn: ‘Nếu không hỏi thì tôi cũng không biết ở đây người ta lấy đức Phật ra để… kinh doanh. Thật là đảo điên, vì tiền mà người ta có thể làm tất cả!…”
Những hang động giả trên Tuyết Huơng Tích là những nơi khách đến nhiều nhất bởi chúng nằm trên con đường dẫn đến động Hương Tích. Sáng ngày 9/2, chúng tôi có mặt tại chùa “Động Sơn Tích Thuỷ” của bà Cao Thị Thi. Tại khu vực thứng cảnh Huơng Sơn, cả gia đình bà Thi đã xây dựng lên 3 điểm để kinh doanh: Nguyễn Văn Truờng – con trai bà viứu “Thuỷ Tiên Tích Động” ; chồng bà, ông Nguyễn Văn Đạo với: Động Phật Tích”. Ông Đạo đã từng chịu án tù treo 2 năm về tội sử dụng chát nổ trái phép và vi phạm lệnh bảo vệ di tích thắng cảnh. Còn bà Thi, truớc kia khi tệ nạn ăn mày ăn xin vẵn còn “oanh tạc” trong mỗi mùa lễ hội thì bà đứng ra làm “oai” với những con người khốn khổ này (tức là mỗi ngày đi xin về họ phải nộp cho bà một khoản tiền thì mới được hoạt động). Đến nay những người ăn mày được gôm vào một chỗ, bà cùng gia đình lại “tu nhân tích đức” xây chùa để “cứu khổ cứu nạn” cho “đời”. có lẽ vì lòng “thành kính” mà trong bia ghi công đức để đúc chuông chùa “Động Sơn Tích Thủy” có tên tuổi của người dân trên khắp cả nước góp vào để bà trình lên Đức Phật. Còn trên con đường dẫn đến “Động Phật Tích” của ông Đạo, để hấp dẫn khách đầu lối đi, ông treo một loạt những bức ảnh đẹp của động Hương Tích, kèm theo lời giới thiệu của một “hướng dẫn viên’ đã quen nghề nhằm thu hút khách.
Chúng tôi đi tiếp đến “Đền suối Giải Oan” của ông Nguyễn Hữu Nhu. “Suối Giải Oan” ngay trước cửa đền mà theo lời giới thiệu nơi chín con suối đổ về. Trên vùng núi cao này mà có đến 9 con suối cùng tụ về một chỗ thì “linh thiêng” thật; bởi thế, mọi người cứ thay nhau khấn vái để mong giải được những oan ức trong lòng. Có lẽ vì “quá tải” do nhiều người trút oan ức xuống nên con suối cạn khô đến mức chủ nhân của nó phải… tát nước vào. Còn “Đền Giải Oan” thì vẫn ngang nhiên án mất cả lối đi dẫn đến Chùa Giải Oan thật. Đi đến một đoạn đường sẽ gặp biển chỉ dẫn lối đi vào Chùa Giải Oan (đây mới thực sự là điểm có trong sơ đồ thắng cảnh), thế là ai ai cũng phải “tầng ngần” mà rằng: “ Sao lắm chỗ để “giải oan” thế, nhưng dưới kia là đền và suối còn trên này là chùa. Thôi cứ vào hết để càng được nhẹ lòng”.
Động Tuyết Quỳnh của chủ nhân Nguyễn Văn Bảng cung là điểm du khách hay đến. Nhưng so với những điểm giả “Đền suối giải oan” chùa “Động Sơn Tích Thuỷ”, “Động Phật Tích” … thì Động tuyết quỳnh dường như ít khách hơn bởi vì nó nằm ở quá cao và xa so với trục đường chính. Khi thấy chúng tôi lên, họ đã “tiếp thị” bằng hẳn… loa phóng thanh mời gọi đóng góp để nhà chùa đúc chuông rất khéo léo, rồi họ hướng dẫn tỉ mỉ đến lễ chỗ này chỗ khác và tất nhiên ở mỗi điểm mà họ chỉ dẫn đến lại có một hòm công đức.
Diệp Hiền Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 7(172)2001