Tôn trọng người việt

Người Việt Nam có nghệ thuật đối thoại lấp lửng. Đó là một dân tộc đa cảm, say mê những lời hát ngỏ tình, những cuộc dạo chơi dưới ánh trăng, dũng cảm đến tận vô thức, e ấp và mang trong mình một nền văn hóa rộng lớn được kế truyền qua xương thịt và tâm linh, chứ không phải qua những công trình vô cảm. Tôi nhớ lại những tháng trời đã sống tại những ngôi làng đồng bằng châu thổ sông Hồng, nằm ngăn cách bên trong những rặng tre. Tôi đã gặp tại đó những con người trong trẻo như thể pha lê mà những tì vết đôi khi lại làm tăng thêm vẻ huyền bí. Tôi cầu chúc cho bạn được trải qua những hạnh phúc như tôi.

Chắc hẳn bạn đã từng nghe nói tới những người phụ nữ nơi đây. Tôi không nói tới sự nô lệ có thể mua được bằng tiền. Tôi muốn nói tới hương thơm của ham muốn đang lan tỏa trong vẻ duyên dáng của những phụ nữ Việt Nam, những giây phút vĩnh hằng thoáng qua trên những mí mắt thanh nhã. Thuở ấy chúng tôi mới đôi mươi vậy mà chúng tôi phải chết. Nỗi hiểm nguy thường trức, sự sợ hãi phải chịu đựng, không khí súng đạn căng thẳng, tất cả những thứ đó đẩy chúng tôi lao vào tình yêu. Hãy yêu những người phụ nữ đó nếu trái tim mách bảo bạn, nhưng hãy tôn trọng sự lặng lẽ nơi họ, ký ức run rẩy, thái độ lo lắng trước người lạ, những giấc mơ không thể trọn vẹn mà bạn là người đón nhận.

Chắc hẳn bạn sẽ mang đến đây nào bê tông, ti vi, ăng ten pa-ra-bôn, máy tính điện tử. Cho phép tôi được khuyến cáo bạn. Đừng bao giờ coi thường Việt Nam. Một ngôi nhà Hà Nội lắp máy lạnh sẽ nhanh chóng trở thành ngôi nhà Singapore hay ngôi nhà ở khu La Defense ở Paris. Nếu bạn tìm cách áp đặt cho nơi này cái trật tự mới của thế giới, một cái gì đó vô cùng mỏng manh và độc đáo sẽ biến mất. Tôi và những chiến hữu đã dính dáng trong vòng bảy năm trời trong cuộc chiến tranh tại đây. Những điều kinh tởm của thế kỷ XX đã đè nặng lên Đông Dương gần gũi của chúng tôi: sự chiếm đóng của người Nhật, sự chia cắt đất nước, hơn 40 năm chiến tranh… Chính vì vậy, vào giờ phút Việt Nam mở cửa này, thay vì hành hạ đất nước này bằng những việc làm đầy ẩn ý, sự hiện đại hóa ồn ào, thế hệ chúng tôi muốn cùng Việt Nam tìm lại giá trị đích thực của nó. Chúng ta cần phải có sự kiên nhẫn và một thái độ kính trọng vô bờ bến. Bạn có thể cho rất nhiều. Nhưng dân tộc này sẽ trả lại cho bạn gấp hàng trăm lần. Đối với tôi, từ năm 1954, đôi khi tôi có cảm tưởng phải lưu đày khỏi cái xứ sở mà tôi không sinh ra ở đó.

Cái hồn của du lịch

Những người kinh doanh tour nhiều khi không giải thích nổi một số hiện tượng. Anh M. ở Huế, nói với tôi: “ Nói đến Huế chắc người làm du lịch nào cũng nghĩ tới vẻ nên thơ của thành phố và lăng tâm. Nhưng có một dạo, nhất là từ những ngày đầu mở cửa, chúng tôi khá ngạc nhiên khi thấy khách không mặn mà lắm đến những điểm du lịch đó mà họ đòi ghi tên đi tour DMZ (khu phi quân sự) kia. Thì ra, giai đoạn đó hồn vía khách du lịch, không chỉ người Mỹ mà cả những công dân nhiều nước khác, đặt chân lên đất Huế nhưng tâm hồn họ hướng cả vào những kỷ niệm bi hùng của khu phi quân sự và giới tuyến 17 sau 20 năm chiến tranh! Tôi bỗng hiểu ra, du lịch có một chiến tranh! Tôi bỗng hiểu ra, du lịch có một cái hồn không phải lúc nào cũng có thể hiểu được. “Dạo đến Bắc Kinh, khi bàn đến chương trình tham quan, hầu như mọi người trong đoàn chúng tôi đều đòi đến ngay Vạn lý trường thành và xin thôi chương trình thăm Đại quan lâu, một khu kiến trúc phỏng theo quang cảnh trong tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng để đi thăm Di Hòa Viên. Đổi đồ giả lấy đồ thật. Một anh nhà thơ bảo tôi: “Từ ngày đọc được hai câu thơ Lý Bạch: “Cử đầu vọng minh nguyệt – Đê đầu tư cố hương” (Ngẩng đầu nhìn trăng sáng – Cúi đầu nhớ quê hương) và thơ biên tái đời Đường, tôi luôn có một quan niệm, một mong mỏi: phải có một lần đặt chân lên Vạn Lý Trường Thành!”. Thì ra Sở du lịch Bắc Kinh tuy quảng cáo rất nhiều tour Vạn lý trường thành nào in bướm, nào kẻ lên áo phông câu nói của cụ Mao: “Bất đáo trường thành phi hảo hán” (Chưa đến trường thì thì không thể là hảo hán) nhưng họ đâu có ngờ có một người Việt nam (mà chắc không chỉ một người) đi du lịch Vạn lý trường thành do đọc thơ Lý Bạch. Có quảng cáo nào sánh nổi thứ quảng cáo đã thấm hàng trăm năm, trong văn hóa, trong tâm hồn thế hệ này qua thế hệ khác? Một giáo sư đại học Cần Thơ ra Bắc lần đầu cứ nằng nặc đòi tôi, đưa đi chợ Hồ, chợ Sủi, chùa Bút Tháp. Ông nói: “Hàng chục năm đứng trên bục giảng cho học sinh bài Bên kia sông Đuống. Những địa danh này đã là hồn tôi”. Cái gì đã làm nên tâm hồn của một điểm du lịch? Có quá nhiều thứ. Lịch sử, thắng cảnh thiên nhiên, tiện nghi tân kỳ, phong tục tập quán lạ, phong cách đối xử của người sở tại và hướng dẫn viên… Câu trả lời đầy đủ nhất là chiều sâu văn hóa. Phải làm thế nào cho mỗi điểm du lịch không chỉ là một di tích lịch sử, một thắng cảnh, một nơi chữa bệnh bằng nước nóng…mà còn là nơi du khách có thể tìm thấy những gì họ đang thiếu về mặt tinh thần. Bởi vì, trong thế giới căng thẳng và nhiều ô nhiễm  ngày nay, người ta đã có quá đủ kinh nghiệm để biết rằng, điều thu được quan trọng nhất trong mọi chuyến đi du lịch là làm thế nào để tinh thần thêm phong   phú chứ không phải chỉ hưởng thụ vật chất. Có một thời, khách du lịch phương Tây háo hức gói trọn công nghiệp du lịch, trong 4 chữ S(Sun, Sea, Sand, Sex). Mặt trời? có lý vì đó là đặc sản của miền nhiệt đới. Biển và bãi cát cũng thế. Tình dục thì lạ và rẻ. Nhưng rồi nhiều người trong họ cũng nhanh chóng hiểu ra những thứ đó sẽ không đưa lại cho khách du lịch gì hơn sự mệt mỏi, chán trường với cái túi rỗng và bệnh thế kỷ. Người ta hướng tới cái hồn của du lịch. Và giá như, ngành Du lịch nước ta có thể gói sự nghiệp của mình trong 4 chữ S gồm những thứ mình có sẵn và đầy quyến rũ như Sun, Sea, San và Soul. Mặt trời, Biển, Bãi cát và hồn người.

Gặp đô đốc mỹ

Mùa mưa đã được trên 3 tháng, vùng miền Đông Nam Bộ nổi tiếng xưa kia là nơi có cọp ba chân, có đàn voi hung dữ tàn phá – có lần cả một làng bị voi quật cho thành bình địa và con người bị xéo dưới chân voi không còn là cá biệt. Rồi miền Đông lại nổi tiếng bởi là nơi ném bom tự do, là nơi chất độc màu da cam triệt hạ hàng chục vạn héc ta rừng, chất độc ngấm vào lòng đất, vào mạch nước chẳng để lại dấu vết gì, ngoài cây rừng bị lá rụng và chết, con người đâu có biết nó phá hoại ghê gớm đến mình như thế nào.

Tôi về miền Đông trong dịp mùa mưa, mưa trắng đồng, trắng rừng, những con suối cạn, những khe khô bây giờ nước chảy cuồn cuộn, muốn đi phải có nơi ngập đến ngực. Lâu lắm rồi tôi mới trở lại nơi đây. Chúng tôi rời đường cái, đi theo con đường mòn, có tranh ngút ngàn, những hạt mưa còn đọng lại trên cỏ thấm vào da thịt mát lạ, tôi bước đi mà nghe trong nước thấm như có một cái gì đó không bình thường. Phía xa và hai bên những hố bom còn hiện rõ trũng sâu, chiến tranh dù đã qua hơn hai mươi năm, vẫn còn dấu vết khá rõ. Ở nơi đây chỉ cách thành phố Hồ Chí Minh trăm cây số mà cuộc sống người dân như ở hai thế giới xa lạ, họ vẫn sống như ngày nào, vẫn nhà tranh dột nát nhìn thấy trời, chẳng có vách, chuồng heo ở lẫn với người, mỗi khi mưa tới, nước phân lợn, nước trời hòa lẫn, chẳng có chỗ cho con người một mảnh khô để trú và cái đập vào mắt chúng tôi là các cháu bé, đến nhà nào cũng có trẻ em tàn tật. Trong đoàn chúng tôi nhiều người không cầm nổi nước mắt, tôi cũng vậy, tôi cứ để cho nó chảy. Các cháu ở đây vừa nghèo trong cuộc sống, vừa bị chất độc màu da cam tàn phá cơ thể một cách khủng khiếp.

Chúng tôi biết rất đó là chất độc hóa học do Mỹ rải xuống các cánh rừng của Việt Nam, để ngăn chặn quân giải phóng trong những năm người Mỹ đưa quân đội vào chiến đấu ở miền Nam. Và, cuộc chiến tranh hóa học mà người Mỹ tiến hành có lẽ chưa ở đâu trên thế giới này lại chịu đựng thảm khốc như ở đây.

Tháng 11-1961, Tổng thống Mỹ John F.Kennedy đã quyết định sử dụng chất hóa học diệt cỏ, để làm trụi lá các cánh rừng của Việt Nam và người trực tiếp ra lệnh cho máy bay Mỹ thả xuống các cánh rừng là Elmo R.Zumwalt lúc bấy giờ là Tư lệnh hạm đội Mỹ ở Thái Bình Dương.

Xin được góp đôi lời

Căn cứ và những lý do mà các vị có trách nhiệm nêu ra cho thấy các bên liên quan, đều đang gặp khó khăn. Theo chúng tôi Ban quản lý dự án là đơn vị chịu trách nhiệm chính và đòi hỏi có tính chủ động cao, nhưng xem ra còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong công tác chuyên môn của mình. Vì vậy, cần phải tranh thủ ý kiến, phối hợp với các bên kịp thời cùng giải quyết những vướng mắc. Vì sao Phòng xây dựng quận Đống Đa, chẳng lẽ Trưởng phòng bận học mà để công việc bị đình trệ hay sao? Nên chăng, cần cử cán bộ có năng lực, tinh thần trách nhiệm thay mặt trưởng phòng giải quyết những công việc thường nhật. Đối với số hộ dân có hợp đồng thuê đất với Trung Tâm hoạt động văn hóa khoa học VM- QTG, chính quyền đã có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế buộc di chuyển. Bởi hợp đồng thuê đất đã hết thời hạn và bản thân họ đã ký cam kết tự di chuyển ( theo biên bản cam kết ngày 2/12/1992). Những giấy tờ thể hiện việc bán nhượng đất cho thuê không được cơ quan nào có thẩm quyền xác nhận, vậy tại sao lại cứ phải lấy đó làm lý do để đi tìm cơ sở pháp lý? Mong HĐGPMB quận Đống Đa xem xét và sớm đi đến giải pháp tích cực nhất. Thời điểm kỷ niệm 990 năm và tiến tới 1000 năm  Thăng Long đang đến gần VM – QTG mà Hồ Văn là một thành phần không thể thiếu, sẽ là điểm mấu chốt của những ngày lễ long trọng này. Mong sao Hồ Văn không gặp phải những trắc trở để được hồi sinh sau bao năm ròng kêu cứu.

Chúng tôi tìm gặp ông Trần Việt Trung, Trưởng phòng Xây dựng quận Đống Đa, đồng thời là Ủy viên thường trực HĐGPMB. Ông Trung thừa nhận: Do lực lượng cán bộ của phòng mỏng, bản thân ông phải dành thời gian đi học, nên phòng chưa tập trung đầu tư thời gian cho công việc này. Trong khi đó, công việc giải quyết chính sách cần có thời gian điều tra, xác minh cụ thể, rõ ràng… mặt khác, trong quá trình lập hồ sơ, Ban quản lý dự án chịu trách nhiệm chính nhưng đã tỏ ra lúng túng về mặt nghiệp vụ, chậm trễ trong khâu cung cấp tài liệu.

Được biết muốn có được phương án đền bù để GPMB, toàn bộ hồ sơ phải được hoàn chỉnh, báo cáo Chủ tịch Hội đồng, triệu tập và thông qua trước HĐGPMB sau đó trình UBND Thành Phố phê duyệt. Nếu đúng theo trình tự này thì không biết đến bao giờ cái phương án đền bù kia mới đến được với người dân theo yêu cầu của họ.

Hội nghị diễn đàn du lịch asean 98

Tổng cục du lịch Việt Nam tham dự hội nghị chính thức lần thứ nhất các bộ trưởng du lịch ASEAN.

Vừa qua, đồng chí Võ Thị Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch đã dẫn đầu Đoàn của Tổng cục Du lịch Việt Nam đi dự Diễn đàn Du lịch ASEAN 98, tổ chức từ ngày 07 đến 17 tháng 1, tại Cebu, Philippines.

Diễn đàn Du lịch ASEAN (ATF – ASEN Tourims Forum) là một sự kiện quan trọng về hợp tác Du lịch giữa các nước ASEAN, từ năm 1994 được tổ chức hàng năm luân phiên tại các nước thành viên.

Diễn đàn Du lịch ASEAN 98, thu hút trên 1.700 đại biểu là các nhà quản lý, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp du lịch và doanh nghiệp liên quan đến du lịch, báo chí không những của 9 nước thành viên ASEAN, của Campuchia (là quan sát viên) mà còn của nhiều nước khác trên thế giới. Tham dự Hội nghị Bộ trưởng chính thức lần thứ nhất có 9 nước thành viên chính thức của ASEAN. Phó Tổng thư ký ASEAN và Campuchia là quan sát viên. Hội nghị chính thức lần thứ nhất các Bộ trưởng Du lịch ASEAN là một sự cam kết chính trị cấp cao, đánh dấu một bước mới trong Hợp tác Du lịch ASEAN.

Sáng ngày 11 tháng 01 năm 1998, tại lễ khai mạc trong thể Diễn đàn Du lịch ASEAN 98, trước sự chứng kiến của gần 2.000 đại biểu, các Bộ trưởng Du lịch ASEAN đã ký Ghi nhớ Bộ trưởng và thông quá Chương trình hành động hợp tác Du lịch ASEAN, trong bầu không khí hữu nghị, hợp tác, tôn trọng, cùng có lợi theo tinh thần truyền thống ASEAN đoàn kết và thân thiện.

Ngoài việc tham gia hoạt động chung của Diễn đàn Du lịch ASEAN 98, đồng chí Võ Thị Thắng, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch đã được tiếp kiến Tổng thống Philippines, Phidel Ramos, tranh thủ Diễn đàn gặp gỡ tay đôi với các Bộ trưởng Du lịch các nước thành viên để bàn thúc đẩy hợp tác song phương, cũng như đa phương bên cạnh hợp tác Du lịch ASEAN; tiếp xúc gặp gỡ báo chí để xúc tiến Du lịch Việt Nam; trao đổi với một số tổ chức và cá nhân quan tâm đến Du lịch Việt Nam.

Festival, quốc tế của các đầu bếp giỏi nhất

Những đầu bến giỏi nhất của 6 nguyên thủ Quốc gia đã đến thành phố Monte – Carlo tham dự Festival quốc tế tổ chức lần đầu tiên mang tên “Hương vị Địa Trung Hải”. Rất nhiều món ăn hấp dẫn đậm đà bản sắc từng dân tộc đã được trình diễn ở đây. Khá nhiều khách du lịch tò mò muốn tìm hiểu xem người ta nấu ăn cho nguyên thủ quốc gia như thế nào? Monte – Carlo thực sự trở thành ngày hội của những “kỳ phùng địch thủ” nấu bếp tài ba.