Sức hấp dẫn của nghề dệt truyền thống

Cuộc trình diễn và tập huấn nghề dệt truyền thống ở các dân tộc Cơ Tu, Thái, Việt do Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam phối hợp với Văn phòng đại diện Tổ chức Giáo dục, Khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNESCO), Cục Bảo tàng và Craft Link tổ chức vừa qua đã thu hút đông đảo người xem tìm hiểu những giá trị và sự đa dạng của nghề thủ công cổ truyền.
Nơi đây đã trở thành điểm hội tụ của những người thợ tài hoa khắp các vùng cùng những sản phẩm văn hóa đặc sắc khiến người xem ngỡ ngàng và khâm phục. Từng tấm vải thể hiện bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc dần hiện ra dưới bàn tay khéo léo của những người thợ lành nghề. Nếu như cách thức dệt vải của người Cơ Tu gần gũi với việc đan nan, thì người Thái từ lâu đã dùng khung cửi với kỹ thuật dệt cầu kỳ và trình độ dệt của người Việt đạt tới trình độ tinh xảo, hình thành nên những làng nghề nổi tiếng với nhiều sản phẩm phong phú từ chất liệu tơ tằm. Mặc dù xuất phát điểm nghề dệt khác nhau như vậy, nhưng, cả 3 dân tộc đã mang đến buổi trình diễn các loại vải, lụa đa dạng về màu sắc và rực rỡ về hoa văn, đặc trưng cho từng dân tộc. Ngắm nhìn chị Hơ Broong Thị Hoa, người dân tộc Cơ Tu đang sinh sống ở làng Zara (Quảng Ngãi) kết những hạt cườm bé xíu, lấp lánh nhiều màu trên nền vải xanh chàm, tạo nên những hình ảnh sinh động, chân thực của cuộc sống hàng ngày như giã gạo, chim, cá…, ông Peter Brush, một du khách Mỹ đã nhận xét: “Trí tưởng tượng phong phú và sự khéo léo của người thợ đã tạo nên những sản phẩm vô cùng tinh tế”.
Tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, những người thợ dệt ở các làng bản còn được tập huấn kỹ thuật dệt vải và nhuộm sợi, học tập những kinh nghiệm giữ gìn một trong những giá trị đặc sắc của nền văn hóa đa dạng Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và du lịch. Chị Vi Thị Tình, một thợ dệt người Thái đến từ Kỳ Sơn (Nghệ An) cho biết:”Đây là cơ hội tốt cho chúng tôi học hỏi nhau để tạo ra những sản phẩm ngày càng đẹp hơn”. Bà Rosamaria Durand, trưởng văn phòng đại diện UNESCO tại Việt Nam đã đánh giá cao những hoạt động này: “Cuộc trình diễn và tập huấn nghề dệt truyền thống ở các dân tộc Cơ Tu, Thái, Việt còn nhấn mạnh vai trò quan trọng của người phụ nữ trong lĩnh vực gìn giữ các kỹ thuật thủ công truyền thống và đề cao khả năng của họ trong việc phát triển kinh tế, cải thiện đời sống gia đình”. Thông qua việc giới thiệu nghề dệt của các dân tộc Cơ Tu, Thái, Việt, người xem đã hiểu hơn những khía cạnh văn hóa vừa vật thể (khung dệt, các sản phẩm dệt) vừa phi vật thể (kinh nghiệm tạo nguyên liệu, kỹ thuật dệt, nhuộm và tạo hoa văn) không những cần được gìn giữ mà còn cần được phát huy, cải tiến cho thích hợp với điều kiện mới. Đây là hoạt động tích cực trong việc giữ gìn và phát huy giá trị một bộ phận di sản văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc ở Việt Nam.
Giải nhiếp ảnh Vapa- Fuji sân chơi khó hay dễ?
Ngay sau khi Hội Nghệ sỹ nhiếp ảnh Việt Nam (VAPA) và hãng phim Fuji phát động cuộc thi ảnh chọn “Nhà nhiếp ảnh xuất sắc giải VAPA – FUJI năm 2001”, nhiều tay máy (không ít là nghệ sỹ nhiếp ảnh đã thành danh) khẳng định không tham gia. Cánh trẻ vốn rất tích cực ở các cuộc thi khác, cũng tỏ ra “sợ” bởi đề khó quá… Thể lệ cuộc thi “gò” mỗi tác giả vào 5 thể loại: chân dung, phong cảnh, tĩnh vật, sinh hoạt và ảnh báo chí. Trong khi đó, có rất ít người sáng tác ảnh nghệ thuật lại theo đuổi và say mê cả 5 thể loại trên.
Tuy với những tác phẩm được giải và vào vòng chung khảo mà Ban giám khảo chọn để triển lãm tại 29 Hàng Bài, Hà Nội từ ngày 16 đến 22/10/2001, cuộc thi chứng tỏ đã tạo được sân chơi khá hấp dẫn. Nhiều tác giả đã tỏ ra nhuần nhuyễn trong thể hiện sự sáng tạo của mình ở cả 5 thể loại ảnh. Bộ ảnh của ba nhà nhiếp ảnh xuất sắc là Trần Vĩnh Nghĩa (Bình Thuận), Hoàng Quốc Tuấn (Thành phố Hồ Chí Minh) và Duy Anh (Tiền Giang) thật sự nổi trội ở cách thể hiện những thể loại “khó” như báo chí, tĩnh vật. Giữa các thể loại, ảnh của họ phân định khá rõ nội dung hoặc hình thức,nhưng yếu tố nghệ thuật lại không có sự khác biệt. Đúng như nhận định của giới chuyên môn, ảnh báo chí của cuộc thi này tình cờ có vai trò quan trọng, bởi đây là thể loại mang nét đặc thù riêng, “gò bó” theo một số quy định về nội dung và tính chân thực. Nhiều bộ ảnh bị loại do chính thể loại này. Trong khi đó, có tác giả như Trần Hoài Long chưa từng làm việc tại các cơ quan báo chí, nhưng tác phẩm ảnh báo chí lại “đứng” khá vững trong bộ ảnh của mình. Tuy không được chọn vào 3 vị trí dẫn đầu nhưng bộ ảnh của Đỗ Thị Ngọc Minh (vợ của Duy Anh) cũng được đánh giá cao. Ảnh tĩnh vật của chị lại được thể hiện rất động: làn khói nhang bay khiến cho mâm quả đặt trước tấm bia liệt sĩ trở nên nồng ấm…
Đây là một cuộc thi mang tính tổng hợp, đòi hỏi một trình độ toàn diện về kỹ thuật, sáng tạo, vốn sống. Nhiều bộ ảnh còn có chất lượng không đều giữa các thể loại, chất lượng ảnh báo chí và tĩnh vật còn yếu, vẫn có sự lẫn lộn giữa ảnh sinh hoạt và ảnh báo chí. Tuy nhiên việc duy trì tổ chức hằng năm cuộc thi này sẽ tạo ra sân chơi mới thú vị và bổ ích cho giới nhiếp ảnh.
T.T – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 43(208)2001

Thị trường trọng điểm trong kinh doanh du lịch

Ở bất cứ lĩnh vực nào, xác định thị trường trọng điểm luôn là một yếu tố quan trọng quyết định tới hiệu quả kinh doanh, đồng thời đó là công việc mang tầm chiến lược trong hoạt động của mỗi doanh nghiệp. Điều này càng được khẳng định đối với lĩnh vực hoạt động kinh doanh du lịch.
Nói đến thị trường trong du lịch, người ta thường quan tâm tới thị trường khách du lịch. So với các thị trường khách nói chung, thị trường khách trọng điểm đảm bảo cung cấp lượng khách lớn hơn, ổn định và lâu dài hơn. Khi xác định được thị trường trọng điểm, vấn đề đầu tư cho kinh doanh như: tuyên truyền quảng bá, tạo sản phẩm đặc thù, đào tạo nguồn nhân lực…được thực hiện có định hướng hơn. Vào thời điểm hiện nay, ở tầm vĩ mô, ngành Du Lịch Việt Nam đã xác định và đầu tư tích cực vào một số thị trường trọng điểm, đó là: Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan và khu vực ASIAN. Những thị trường này được xác định bởi các yếu tố cơ bản như: sự gần gửi về văn hóa, ngôn ngữ, gần gửi về địa lí, từng đối đầu trong chiến tranh; có đông đảo Việt kiều sinh sống…Đương nhiên, đó là những thị trường luôn dẫn đầu về số lượng khách du lịch quốc tế vào nước ta trong những năm gần đây (xem bảng).
Đối với các doanh nghiệp, việc xác định thị trường trọng điểm mang tính chủ quan hơn vì họ phải dựa vào các yếu tố đặc thù của riêng mình. Đó là thị trường truyền thống đã có những đối tác thân thiết, sản phẩm du lịch đặc thù, kỹ năng cũng như trình độ chuyên môn của lực lượng lao động…Có một yếu tố rất quan trọng đó là dựa vào nguồn gốc của đối tác liên doanh(ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài).Công ty liên doanh du lịch EXOTISSIMO-CESAIS có đối tác đến từ Pháp, nên thị trường trọng điểm của họ trước tiên phải là Pháp và các nước nói tiếng Pháp. Hoặc Công ty liên doanh du lịch OSC-SMI có đối tác từ Nhật Bản, nên họ chú trọng đầu tư nhằm vào thị trường chính là Nhật Bản. Ông Trương Nam Thắng, giám đốc chi nhánh OSC-SMI tại Hà Nội cho biết, hằng năm lượng khách đến từ thị trường Nhật Bản chiếm khoảng 60% tổng lượng khách của công ty. Để khai thác có hiệu quả thị trường khách lớn như vậy, doanh nghiệp đã xây dựng được quy trình chuyên sâu có tính “Nhật hóa”. Ngoài vốn ngoại ngữ ưu tiên tiếng Nhật , đội ngũ nhân viên của công ty hiểu biết khá rõ nét đặc trưng văn hóa, phong tục, cách ứng xử của người Nhật. Hệ thống dịch vụ như khách sạn , phương tiện vận chuyển, chương trình du lịch…đáp ứng khá tốt thị hiếu của người Nhật.
Xác định thị trường trọng điểm trong kinh doanh du lịch không khó, nhưng khai thác có hiệu quả lại là vấn đề không đơn giản. Công ty du lịch Hà Nội hiện có hai thị trường trọng điểm đang được khai thác ổn định là Pháp và Thái Lan. Mặc dù thị trường Pháp đã trở thành truyền thống từ năm 1988 với quy trình khá hoàn chỉnh, nhưng chất lượng chương trình, điểm đến, nơi ăn nghỉ và các dịch vụ khác vẫn được kiểm tra lại hằng năm.
Hiệu quả khai thác thị trường trọng điểm phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố con người. Vấn đề này liên quan đến chiến lược đào tạo nguồn nhân lực. Vào thời điểm đầu thập kỷ 90, số khách Nhật vào Úc chỉ khoảng 50 ngàn lượt. Ngành Du Lịch Úc đã đầu tư cho 75 người sang du học tại Nhật trong 5 năm, với mức kinh phí mỗi người 200.000 USD. Sau đó, lượng khách Nhật tới Úc tăng đột biến: Năm 1995, đón 800 ngàn lượt; một năm sau con số đó đã lên tới 1 triệu 200 ngàn lượt. Như vậy, dù chi phí đào tạo có cao, nhưng hiệu quả thu về lại rất lớn và bền vững . Đây là kinh nghiệm rất thực tế, đáng để ngành du lịch nước ta tham khảo trong việc xác định và khai thác thị trường trọng điểm có hiệu quả.
Thành nhà Hà một kiến trúc độc đáo
Để chuẩn bị chiến đấu chống quân Minh xâm lược, Hồ Qúy Ly đã cho xây dựng một tòa thành bằng đá với quy mô kiến trúc lớn nhất và độc đáo nhất nước ta vào mùa Xuân năm Đinh Sửu (1397) tại An Tôn- một làng cổ ở phía bắc huyện Vĩnh Ninh xưa (nay là Vĩnh Lộc),Cách thành phố Thanh Hóa hơn 50km về phía tây bắc. Tòa thành này có nhiều tên gọi như Yên Tôn, Tây Đô, Tây Giai, Tây Kinh…
Thành được xây dựng theo hình chữ nhật với chiều dài 900m, rộng 700m, cao trung bình 5-6m, có chỗ tới 10m. Toàn bộ tòa thành được xây dựng bằng những phiến đá rất lớn, có phiến kích thước 5m x 1.7m và nặng trên 30 tấn. Thành có 4 cổng Đông, Tây, Nam, Bắc- cả 4 cửa này đều xây hình vốn cuốn được liên kết với nhau bởi những phiến đá hình múi bưởi nêm khít nhau với độ cong cân đối đến kì diệu.
Nhiều bí ẩn về kỹ thuật xây dựng, nghệ thuật kiến trúc, phương pháp vận chuyển vật liệu đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ. Bằng cách nào đẻ người ta có thể vận chuyện hành vạn khối đá lớn như vậy về địa điểm xây dựng? Dùng phương pháp gì để đưa những khối đá rất lớn và nặng ấy chồng khít lên nhau ở độ cao 5-6m, có chỗ tới hơn 10m, theo hình chữ “công”mà lại không cần chít chất kết dính, tạo thành vách thẳng đứng? Tất cả vẫn nằm trong màn sương bí mật..
Bùi Hoàng -Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 41 (206) 2001

Hội thảo về phát triển du lịch Hà Nội

Ngày 6/10/2001 tại Hà Nội sẽ diễn ra Hội thảo “Tiềm năng của du lịch Hà Nội trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”. Mục đích chính của Hội thảo là giới thiệu tiềm năng của du lịch gắn liền với tài nguyên nhân văn, địa danh lịch sử- văn hóa của Hà Nội nhằm quảng bá, thu hút khách du lịch.
Du lịch và Cái Bang
Không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều nước khác trên thế giới, hiện tượng ăn mày ăn xin khá phổ biến. Có thể cũng những mánh khóe để gợi lòng trắc ẩn nơi du khách, nhưng chẳng bao giờ họ lại làm phiền khách du lịch để tham quan các thắng cảnh, di tích đẹp, đi đây đi đó thăm thú, tìm hiểu cuộc sống của người dân. Nhưng tại nhiều điểm tham quan, bãi biển, họ còn gặp không ít sự khó chịu vì luôn phải lắc đầu từ chối những người bán hàng rong, đánh giày hoặc ăn mày ăn xin bám riết.
Không chỉ khách Tây mà cả khách ta cũng rất phiền lòng. Sau một thời gian làm việc căng thẳng, muốn tìm chỗ yên tĩnh để nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng, ai ngờ lại vướng phải đám ăn mày ăn xin, ép mua ép giá. Đi đâu, làm gì cũng bị lãng nhẵng bám theo, muốn yên chuyện thì phải “xùy” tiền. Làm sao bỏ tiền ra hết cho đám đông này được?
Việc khách du lịch cho tiền đã cho ăn mày, ăn xin một thói quen lười lao động, ỷ lại. Nhiều khi họ còn có những hành vi trêu chọc, chửi mắng khách du lịch khi không xin được. Đã nhiều lần các báo, đài lên tiếng cảnh báo về nạn ăn mày, ăn xin, ép mua ép giá tại các điểm tham quan du lịch, đồng thời các cơ quan chức năng cũng vào cuộc nhưng tệ nạn này chẳng giảm được là bao. Những nơi du lịch càng phát triển thì đội ngũ “cái bang” càng phát triển theo.
Giải quyết vấn đề này không phải là dễ nhưng chẳng lẽ lại không làm được? Hãy để du khách khi rời Việt Nam có một ấn tượng tốt về một đất nước tươi đẹp, mến khách và văn minh.
Cây dã hương nghìn năm tuổi đang kêu cứu
Trong từ điển Larrousse (Pháp) có tấm ảnh về một cây dã hương ở Việt Nam với dòng chú thích: “Le Cam phri-er Tien Luc, Deuxiene camphrier du monde” (Cây dã hương Tiên Lục, cây dã hương thứ hai của thế giới). Tuy nhiên, cây dã hương quý này hiện đang bị mối “ăn thịt”. nếu không nhanh chóng cứu chữa, có lẽ không lâu nữa, chúng ta chỉ còn cơ hội chiêm ngưỡng “kỳ mộc” này qua ảnh chụp.
Niềm tự hào của làng
Cây dã hương ở xã Tiên Lục (Lạng Giang- Bắc Giang) là một loại cây long não được các nhà khoa học liệt vào hàng cực hiếm, bởi chúng gần như tuyệt sinh (chỉ còn một cây ở châu Phi và cây dã hương Tiên Lục). Đã hàng nghìn năm tuổi, cây dã hương Tiên Lục có dáng vóc khổng lồ, cao hàng chục mét, 6-7 người lớn ôm không xuể. Mùa xuân, cây ra hoa, hương thơm lan tỏa khắp vùng.
Dân Tiên Lục coi cây dã hương này là linh vật của quê hương, xóm nơi có cây dã hương này được gọi là “xóm cây dã”, đình ngay kề đó cũng được gọi là “đình cây dã”. Cụ Nguyễn Đình Kỳ, 73 tuổi người sống trong xóm nói: “Nếu ông nội tôi còn sống, bây giờ cụ đã 180 tuổi. Thế mà ngày xưa cụ kể với tôi rằng lúc cụ còn con nít đã thấy cái cây có từ lâu lắm rồi”.
Theo cụ Kỳ, cây dã hương này “thiêng” lắm. Cứ mỗi lần có cành to gãy thì y như rằng xảy ra biến cố lớn trong xã hội. Một cành gãy vào năm 1945, chỉ ít tháng sau cách mạng tháng tám thành công. Một cành gãy vào năm 1978, sau đó nổ ra rắc rối ở biên giới phía bắc. Năm 1983, trẻ chui vào thân cây đốt lửa sưởi, tàn lửa làm cháy âm ỉ trong thân cây, khói bốc lên ngọn, mùi dầu dã hương thơm lừng lan tỏa khắp vùng. Xe cứu hỏa đã phải về chữa lửa. Chưa rõ lời nói trên của cụ Kỳ đúng sai đến đâu, có điều vào năm 1989, đình Viên Sơn và cây dã hương cổ thụ đã được Bộ Văn hóa- Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia (Di tích này do ủy ban nhân dân huyện Lạng Giang trực tiếp quản lí).
Không nên xem là “chuyện nhỏ”
Ông Trần Đức Toàn, phó chủ tịch ủy ban nhân dân xã Tiên Lục xác nhận : hiện tượng mối xong đã xuất hiện 4-5 năm nay. Phần vỏ của cây dã hương bị mối ăn thành rãnh. Điều đáng tiếc ở chỗ phát hiện sự việc trên khá lâu nhưng trong một thời gian dài, chính quyền và dân địa phương đã không có biện pháp gì ngăn chặn. Nhiều người cho rằng mối ăn giát (phần vỏ khô) nên không nguy hại gì, cây không thể chết được. Ngay cả ông Nguyễn Quang Cần, giám đốc Bảo tàng tỉnh Bắc Giang cũng khẳng định: Việc mối xông chưa thể làm đổ cây dã hương. Tuy nhiên, ông Phạm Huy Thắng (Bộ môn Bệnh cây- Viện Bảo vệ thực vật) lại cho rằng việc cây bị chết là hoàn toàn có khả năng vì các mao mạch của cây rất dễ bị mối “xơi tái”.Được biết, năm 1982, một cành dã hương sắp gãy, Ty Văn Hóa Hà Bắc (cũ) lập kế hoạch “cứu chữa”, nhưng kế hoạch chưa kịp xong thì cành đã rơi xuống.
Vừa qua, Viện khoa học phát triển công nghệ và Viện bảo vệ thực vật (Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) đã xuống hiện trường lấy mẫu và chuẩn bị kế hoạch diệt mối. Tuy nhiên, cũng cần phải nhắc lại chuyện nghiên cứu chữa cây đã nghìn tuổi ở Cổ Loa. Nhiều tỷ đồng đổ vào mà cây đa ấy vẫn cứ chết vì lúc phát hiện thì “bệnh” đã quá “nặng”. Do vậy, không nên xem việc cứu chữa cây dã hương là chuyện nhỏ và mọi bước cần được tiến hành khẩn trương trước khi quá muộn.
Nguyễn Hoàng -Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 41 (206) 2001

Du lịch góp phần tăng tỷ trọng

Du lịch góp phần tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp dịch vụ của Nam Định. Nam Định là tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, cách Thủ đô Hà Nội 90 km, về phía Đông nam, có diện tích tự nhiên 1.671,6 km2, dân số hơn 2 triệu người. Qua quá trình phát triển kinh tế, tỉnh Nam Định đã hình thành rõ nét 3 vùng kinh tế: vùng kinh tế biển, vùng sản xuất nông nghiệp và vùng kinh tế trung tâm công nghiệp dịch vụ ở thành phố Nam Định. Trong hơn 10 năm qua, kinh tế của tỉnh đã có bước chuyển biến tích cực, tổng sản phẩm xã hội (GDP) tăng bình quân mỗi năm trên 7%. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện, quốc phòng, an ninh được củng cố,,, Đối với Nam Định, phát triển du lịch là một hướng quan trọng để đẩy mạnh phát triển kinh tế và tạo sự chuyển biến theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp dịch vụ trong cơ cấu tổng sản phẩm xã hội như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XVI đã đề ra. Với lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và nguồn tài nguyên du lịch đa dạng phong phú, du lịch Nam Định có đủ yếu tố cần thiết để phát triển với tốc độ nhanh, bền vững. Cảnh quan danh thắng tại Nam Định còn mang nét đặc trưng riêng như vùng rừng ngập mặn Xuân Thủy (khu bảo tồn thiên nhiên ven biển đầu tiên của Việt Nam tham gia công ước quốc tế RAMSAR) bãi biển Thịnh Long, Quất Lâm còn giữ được nguyên chất đồng bằng, những quần thể di tích lịch sử văn hóa độc đáo như đền Trần, chùa Tháp, chùa Cổ Lễ, chùa Keo Hành Thiện, Phủ Dầy…
Trong những năm qua dù còn gặp nhiều khó khăn song ngành du lịch Nam Định đã cố gắng trong việc khai thác tiềm năng du lịch thế mạnh để phát triển du lịch. Kết quả đạt được ban đầu còn hạn chế, chưa thể hiện rõ vai trò tác động vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Để đẩy mạnh phát triển du lịch trong thời gian trước mắt cũng như những năm tới tỉnh Nam Định đã xây dựng chương trình phát triển du lịch thời kỳ 2001 – 2005 và những năm tiếp theo đồng thời đề ra những giải pháp thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và khả năng thu hút nguồn vốn trong nước và quốc tế theo hướng:
Tập trung đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong đó có hoạt động du lịch như: nâng cấp hệ thống giao thông, điện lưới quốc gia, phát triển mạng lưới bưu chính viễn thông. Đối với các khu du lịch trọng điểm sử dụng nguồn vốn ngân sách của địa phương và tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương để phát triển kết cấu hạ tầng, tôn tạo cảnh quan môi trường tạo tiên đề tiền đề để thuận lợi cho hoạt động đầu tư kinh doanh du lịch của các thành phần kinh tế.
Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tham gia đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành du lịch thông qua việc ban hành chính sách ưu đãi về đất đai, về tài chính tín dụng, thuế, đơn giản thủ tục hành chính trong việc cấp phép đầu tư vào lĩnh vực hoạt động du lịch.
Khai thác tốt tiềm năng, nguồn tài nguyên du lịch hình thành các sản phẩm du lịch hình thành các sản phẩm du lịch có chất lượng, có sức hấp dẫn đối với du khách theo hướng ưu tiên phát triển du lịch nhân văn và du lịch sinh thái. Trong thời gian tới tỉnh sẽ triển khai thực hiện các dự án xây dựng các khu du lịch như: khu du lịch dịch vụ tổng hợp. Thiên Trường ở thành phố Nam Định khu du lịch văn hóa lễ hội Phủ Dầy.
Liên hoan phim Châu U tại Việt Nam
Từ ngày 11 -27/5 tại Hà Nội sẽ diễn ra liên hoan phim Châu Âu lần thứ 2. 11 nước thành viên liên minh châu Âu có sứ quán tại Việt Nam đều trình chiếu tác phẩm của mình. Mỗi bộ phim mang một phong cách riêng nhưng đều phản ánh sự đa dạng của Văn hóa châu Âu. Thụy Điển với phim “Con mắt”, Pháp “Thằng gù”. Đan Mạch “ Người duy nhất” Đức “Trong tháng 7”, Phần Lan “Tommy và chú mèo máy”, Tây Ban Nha “Những người đàn ông cô đơn”, Hà Lan ‘Geroeg trở về nhà”, Bỉ “Roselta”, Ý “Bánh mì và hoa tuylip”, Anh “Billy Elliot”. Các phim này cũng sẽ được trình chiếu tại TP. Hồ Chí Minh từ ngày 1 -12/6/2001.
Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 40 (205) – Năm 2001

Trùng tu hay…?

Hà Nội hiện có hơn 2000 di tích như đền, chùa, miếu, lăng tẩm… thì có hơn 1300 di tích đang bị xuống cấp nghiêm trọng bởi chiến tranh hoặc thời gian tàn phá. Do nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân và nhu cầu thăm quan của khách thập phương, những di tích này đang từng bước được trùng tu lại.
Tuy nhiên, không phải sự trùng tu nào cũng đảm bảo được giá trị văn hóa, lịch sử và kiến trúc nguyên bản của di tích. Sự quan tâm của các cơ quan bảo tồn, bảo tàng còn quá ít nên không thể giải quyết được tình trạng xuống cấp của hàng loạt di tích, vì thế ở một số di tích, dân đã tự cung tiến để nhà chùa tự thiết kế trùng tu, tôn tạo theo một lối kiến trúc lai căng, không phù hợp với kiến trúc đền, chùa vốn có: một số chùa xây dựng tam bảo hai tầng hoặc xử lý không đồng bộ các khâu như nền, móng, thoát nước, chống mối mọt… Việc sửa chữa các kiến trúc thay thế vật liệu, kiểu cách, màu sắc cấu kiện, hiện vật cũng hết sức tùy tiện, thậm chí còn cấy thêm một số bộ phận không phù hợp như: cổng, hàng rào sắt, lát gạch men hoa (chùa Tân Triều-Triều Khúc-Thanh Trì), hay xây thêm bệ thờ, đắp vẽ tranh tượng, tô màu lòe loẹt… ở một số di tích, người ta còn thay thế hẳn kiến trúc cổ truyền – di tích đã được xếp hạng, bằng một công trình mới, kiến trúc không ăn nhập chút nào với vật liệu hoàn toàn hiện đại như đổ bê tông cốt thép hoặc đưa thêm các công trình phụ trợ vào tháp, nhà thờ ở những vị trí không phù hợp với cảnh quan và quy hoạch chung.
Hậu quả là các di tích mất đi giá trị văn hóa – lịch sử, kiến trúc trường tồn của nó. Tìm hiểu về nguyên nhân của tình trạng trên, chúng tôi được ông Trần Hưng Hoài – Chuyên viên phòng Văn hóa Thông tin, kiêm Trưởng ban bảo tồn, bảo tàng huyện Thanh Trì cho biết: “Khi trình đơn tu sửa lại chùa lên cấp lãnh đạo, nhà chùa và nhân dân chỉ xin cho phép đảo lại ngói, sửa chữa những chỗ hỏng hóc quá nặng, xây dựng thêm một gian bếp. Nhưng khi xây dựng thì lại sai hoàn toàn so với đơn trình ban đầu”. Còn Hòa thượng Thích Thanh Chỉ – Trụ trì chùa Tân Triều (Triều Khúc) lại cho rằng: “Gạch lát nền là do dân cung tiến, mà dân đã cung tiến nhà chùa phải sử dụng. Vả lại, các cụ cũng muốn nền chùa thật sạch sẽ để còn ngồi cầu kinh niệm Phật”.
Điều này chứng tỏ sự quản lý từ cấp lãnh đạo đến cơ sở còn chưa chặt chẽ, để đến khi việc vi phạm bảo tồn, bảo tàng những giá trị di tích xảy ra thì mới hay. Việc tu bổ tùy tiện cũng cho thấy, nhận thức của nhân dân về gìn giữ giá trị tinh hoa của văn hóa dân tộc còn rất hạn chế. Đáng ra, các vị trụ trì đền, chùa phải thuyết phục nhân dân bảo vệ giá trị truyền thống khi tu bổ di tích thì lại nghe theo dân, dẫn đến việc chốn linh thiêng – văn hóa – lịch sử trở thành nơi có kiến trúc tạp nham không thể chấp nhận.
Có thể nói, Hà Nội là nơi hội tụ lượng di tích lớn nhất cả nước. Vì vậy, khách đến tham quan Hà Nội là chủ yếu thăm quan các di tích. Vậy mà hầu như những di tích được trùng tu đang mất dần giá trị vốn có khiến khách du lịch không còn cảm nhận được giá trị truyền thống, văn hóa lịch sử của di tích. Với việc bảo tồn không theo quy định ở các di tích như hiện nay, liệu Hà Nội có giữ được truyền thống nghìn năm văn hiến cho thế hệ mai sau?.
Chiếc ví và lòng tin
Đêm cuối năm lạnh giá. Tôi đang định vùi mình trong chăn ấm để xả hơi sau một ngày rong ruổi cùng khách, bỗng chuông điện thoại réo vang. Vừa cầm máy, tôi đã nghe thấy từ đầu dây bên kia giọng nói gấp gáp của một người nước ngoài:
Hương! Hương phải không? Chiếc ví xách tay của tôi biến mất từ lúc nào không biết. Ôi thật khủng khiếp, trong đó có vé chuyến bay chiều mai, thẻ tín dụng, tiền và các giấy tờ khác. Tôi phải làm gì bây giờ? Hãy giúp tôi với nhanh lên…
Thì ra là Dana, một phụ nữ quốc tịch Mỹ trong đoàn khách du lịch mà hai ngày qua tôi đang làm hướng dẫn viên. Để cho Dana bình tĩnh trở lại, tôi hỏi thăm rành rọt và được biết, ngay khi kết thúc bữa ăn tối ở nhà hàng bên hồ Hoàn Kiếm, cả đoàn lên xe về khách sạn. Vào phòng một lúc, chị sực nhớ và nhận ra rằng chiếc ví không còn ở bên mình. Dana hoảng hốt thực sự và tìm tới tôi, chỗ dựa duy nhất của chị lúc này. Tôi động viên Dana, hứa sẵn sàng giúp chị và khẳng định rằng, nếu chị để quên trên xe hay tại nhà hàng thì chắc chắn không thể mất được. Thú thật, tôi cũng lo cho chị, vì làm sao biết được chiếc ví thất lạc ở đâu, lúc nào…
Sau ít phút liên lạc, lái xe khẳng định chắc chắn với tôi rằng trên xe không hề có chiếc ví nào. Tôi lập tức đến ngay nhà hàng, nơi cả đoàn ăn tối. Phòng ăn đã tắt đèn, người giữ chìa khóa đã về nghỉ. Được phép của bác bảo vệ, tôi dùng đèn pin soi qua cửa, căng mắt dò tìm xung quanh bàn nơi Dana đã ngồi ăn tối: “Đây rồi!”, tôi mừng rỡ reo toáng lên. Chiếc ví màu đen nằm ngay dưới chân bàn. Để cho Dana yên tâm, tôi liền gọi điện báo tin cho chị biết và đề nghị bác bảo vệ ghi nhận vào sổ trực. Xong việc cũng đã quá nửa đêm, niềm vui vì đã giải thoát cho Dana khỏi nỗi lo lắng khiến tôi thanh thản, quên hết mọi mệt mỏi.
Sáng sớm hôm sau, qua một số thủ tục đơn giản, Dana sung sướng nhận lại chiếc ví cùng tài sản quý của mình. Chị ôm chầm lấy tôi, giọng nghẹn ngào:
Cảm ơn, cảm ơn nhiều lắm! cả đêm qua sẽ rất khủng khiếp đối với tôi nếu không có bạn…
Thấy Dana hạnh phúc, trong tôi tràn ngập niềm vui và chỉ muốn nói với chị rằng, đó là công việc rất bình thường của hướng dẫn viên chúng tôi.
Thăng Long – Phương Thúy – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 42(207)2001

Cần làm trắng đĩa hình đen

Vài năm gần đây, bằng hình dần dần bị đĩa thay thế. Ưu thế đĩa hình so với băng hình: gọn nhẹ, hình ảnh, âm thanh tốt hơn băng rất nhiều. Bên cạnh đĩa hình nội dung lành mạnh, thì có vài văn hóa thì có nội dung “đen”không hiếm. Cửa hàng cho thuê, bán đĩa hình mọc lên như nắm. Dạo quanh đường chùa Bộc, La Thành, khu Bách Khoa, Thanh Xuân… thấy nhan nhản hàng cho thuê, bán đĩa hình. Riêng khu Thanh Xuân Bắc có ít nhất khoảng 20 cửa hàng. Tùy số vốn lớn nhỏ mà cửa hàng có số lượng đĩa ít hay nhiều, có khi lên tới hàng ngàn. Khi chúng tôi vào cửa hàng trên đường Bê Tông Thanh Xuân Bắc, chủ cửa hàng bê ra một chồng list đĩa hình VCD, DVD. Liếc qua chồng list chúng tôi thấy đủ loại đĩa với đủ nội dung khác nhau, từ bạo lực kinh dị đến tâm lý hầu hết là của Mỹ và Hồng Kông. Phim tâm lý hầu hết là câu khách bằng những hình ảnh khêu gợi, hở hang hay đi kèm những cái tên khi nghe thấy cũng đã giật mình: “Lửa dục đam mê”, “Tình điên dại”, “Tình không biên giới”, “Kim Bình Mai”… nội dung phim tâm lý rất nhàm chán nhưng hình ảnh rất “nóng”, cảm tưởng là loạn phim sex trá hình. Tại cửa hàng ở đường La Thành, trong vai những người đi mua đĩa phim, thấy chúng tôi chê đĩa phim tâm lý tại đây xem không đã, thì chủ của hàng bậc mí. Nếu anh cần xem phim nặng đô hơn, mai anh lại đây em để cho. Theo anh ta báo giá thì: 16 nghìn 1 đĩa đơn, 30 nghìn cho một cặp loại phim mà anh ta gọi là nặng đô kia. Số lượng không hạn chế. Cảnh chem. Giết, bạo lực đầy rẫy trong những đĩa “Ma Sói”, “Ma cà Rồng”, “Quỹ đầu ngô”, “Máu kẻ thù”, “Vùng đất chết”…. giá thuê một đĩa hình dao động từ 2.500 đồng đến 3.000 đồng/ ngày đêm, người không quen phải đặt cọc đủ để làm tin. Hầu hết các cửa hàng cho thuê đĩa hình tại Hà Nội đều có sẵn phim tâm lý, kinh dị, bạo lực và không ít hàng cho thuê phim sex. Tuy chưa công khai như chợ đen thường là đĩa lậu, được in lậu hoặc nhập lậu. Đãi hình được in sang tại Việt Nam hoặc nhập lậu qua biên giới chủ yếu qua đường tiểu ngạch. Đĩa nhập về được bắn chữ phụ đề tiếng Việt hoặc lồng tiếng rồi tung ra thị trường.
Đời sống vật chất người dân ngày một cao, việc mua một chiếc đĩa đầu dàn máy tính không phải là một điều khó khăn. Đĩa hình đen càng có điều kiện xâm nhập len lỏi vào từng hộ gia đình. Khách hàng của các cửa hàng phần lớn là thanh thiếu niên, sinh viên học sinh, tầng lớp dễ bị kích động, tiêm nhiễm thói hư tật xấu. Nội dung thiếu lành mạnh của đĩa hình đen gây ảnh hưởng không nhỏ đến cộng đồng xã hội. Vì thế, đòi hỏi những nhà quản lý phải có những biện pháp triển để hơn nữa. Tổ chức kiểm tra thường xuyên giấy phép kinh doanh, nguồn gốc, nội dung đĩa để loại trừ đĩa hình đen, và có hình thức xử lý nghiêm túc, kiên quyết với các vi phạm. Trách nhiệm, vai trò lớn nhất thuộc về Bộ Văn hóa – Thông tin, không thể để tình trạng bùng phát tự do như hiện nay.
Triển lãm tranh “Tôi vẽ văn nghệ sĩ” của nhạc sĩ họa sĩ Nguyễn Đình Phúc.
UBND thành phố Hà Nội và Sở Văn hóa – Thông tin vừa tổ chức phòng tranh của nghệ sĩ, họa sĩ Nguyễn Đình Phúc.
Sâu 55 cống hiến cho sự nghiệp âm nhạc, ngoài các tác phẩm nổi tiếng như Lời ru tử, Tiếng đàn bầu, Cô lái đò… Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc còn vẽ tranh chân dung các nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ, biên đạo múa, biên kịch. Triển lãm trưng bày 122 nhức chân dung và 15 bức phong cảnh bằng chất liệu sơn dầu và giấy dó. Triển lãm diễn ra ngày 8/5 đến 19/5 tại 93 phố Đinh Tiên Hoàng, Hà Nội.
Tại sao ở Hà Nội có nhiều cô gái đẹp mà anh lại chọn đề tài phụ nữ vùng cao?
Tôi thích sống ở nông thôn, không khí yên tĩnh và trong lành nên ảnh của tôi chuyên về vùng quê. Đặc biệt, trong các thể loại , tôi thích chụp ảnh chân dung. Phụ nữ thiểu số Việt Nam có bản sắc văn hóa rất riêng: màu sắc, kiểu may mặc trang phục phong phú. Điều đó đã hấp dẫn tôi cũng như nhiều du khách phương Tây.
Chúc các anh chị có thêm bộ ảnh sưu tập mới.
Nguyễn Văn Hải – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 20 (185) 2001

Vẽ tranh tập thể tại 10 thành phố

Theo CLB UNESCO Văn hóa gia đình thuộc hiệp hội UNESCO Việt Nam cho biết, để hưởng ứng “Năm quốc tế đối thoại giữa các nền văn minh” của Liên Hợp quốc và dự án “Ngày quốc tế trẻ em hôm nay” do Hiệp hội Câu lạc bộ và trung tâm UNESCO Ba Lan phát động, cùng với 9 thành phố khác trên thế giới là Iserlohn (Đức), Bucarest (Rumani), Kathmandu (Nêpan), Krakow (Ba Lan), Manila (Philipine), Minsk (Bêlarut), Ticino (Thụy Sĩ) Sydney (Úc) và Ekaterinburg (Nga), Hà Nội sẽ tham gia cuộc vẽ tranh tập thể với chủ đề “Hành tinh của chúng ta- Ngôi nhà cho tất cả mọi người”.
Tại Hà Nội, theo dự kiến của Ban tổ chức, cuộc vẽ tranh của ban tổ chức vào ngày 1 -7 tới tại Văn Miếu Quốc Tự Giám, với sự tham gia của nhiều học sinh, tham gia và cha mẹ của các em. Được biết, các tấm vải được vẽ tranh có kích thước từ 30m x 1,6m sẽ được chuyển từ thành phố Krakmnow tới các thành phố tham gia. Sau khi vẽ xong, chúng ta lại được đưa trở lại thành phố Krakow để triển lãm trên mạng Internet toàn cầu và chấm giải.
Vẫn chưa có quy chế tạm nhập, tái xuất phương tiện của khách du lịch.
Tổng cục du lịch vừa tiếp tục đề nghị Thủ tướng chính phủ chỉ đạo các ngành liên quan sớm ban hành quy chế về tạm nhập, tái xuất phương tiện vận chuyển đặc biệt là ô tô tay lái nghịch của khách du lịch mang vào Việt Nam. Hiện nay, nhu cầu đi du lịch bằng phương tiện cá nhân hoặc của doanh nghiệp của các nước láng giềng sang – Việt Nam ngày càng tăng trong 10 nước ASEAN lại sử dụng ô tô tay lái nghịch. Để khai thác tốt hơn nguồn khách này, Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm đã chỉ đạo: Bộ công an cần sớm hoàn chỉnh đề án quy chế trên, Chính phủ sẽ giải quyết dứt điểm theo nguyên tắc cho phép vào, bảo đảm an toàn giao thông.
Không biết vì lý do gì, từ năm 1999 đến nay ngành công an vẫn chưa xây dựng xong quy chế.
Quảng Nam:Họp báo quốc tế giới thiệu tiềm năng đầu tư phát triển kinh tế văn hóa du lịch.
Tại Hội An, UBND tỉnh Quảng Nam vừa tổ chức hợp báo quốc tế giới thiệu tiềm năng đầu tư, phát triển kinh tế văn hóa du lịch của tỉnh. Nhiều vị Đại sứ, Tham tán, Tổng lãnh sự ngoài cùng các hãng thông tấn, báo chí quốc tế như ÀP (Pháp), Reuter (Anh), Kinh tế Nhật báo Trung Quốc, Nhật Bản… và một số báo, đài trung ương và địa phương tham dự. Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, chủ tịch UBSN tỉnh Quảng Nam, đã giới thiệu tóm tắt những tiềm năng của Quảng Nam trên các lĩnh vực công nghiệp, du lịch vận tải… đặc biệt là những chính sách ưu đãi của tỉnh trong việc thu hút đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp, khu kinh tế mở Chu Lai. Với hai di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn và Hội An, Quảng Nam đã xác định phát triển du lịch là điểm mũi nhọn của tỉnh (Tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch Quảng Nam bình quân trên 20%/ năm, 6 tháng đầu năm 2001 lượng khách đến Quảng Nam tăng 62% so với cùng kỳ). Ông Vũ Ngọc Hoàng cũng được trả lời nhiều câu hỏi của nhà báo về cơ hội đầu tư, cơ chế chính sách, những loại hình doanh nghiệp được khuyến khích đầu tư, quyền lợi của nhà đầu tư tại Quảng Nam…
Kỳ họp thứ 9, quốc hội khoá X: Ông Nguyễn Văn An được bầu làm chủ tịch quốc hội.
Sáng 27/06/2001, các Đại biểu Quốc hội đã tiến hành bầu chủ tịch Quốc hội và phê chuẩn một số chức danh Bộ trưởng do chính phủ đề xuất. Kết quả: Ông Nguyễn Văn An, 64 tuổi, Ủy viên Bộ chính trị, nguyên trưởng ban tổ chức Trung ương Đảng đã trúng cử chức chủ tịch Quốc Hội khóa X. Quốc hội cũng đã thông qua tờ trình danh sách Hội đồng Quốc Phòng và An Ninh di chủ tịch nước Trần Đức Lương đọc, theo đó, ông Nguyên Văn An thay ông Nông Đức Mạnh làm Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An Ninh.
Tiếp đó, ông Phan Quang Nghị, Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư tỉnh ủy Hà Nam cũng đã được quốc hội bỏ phiếu phê chuẩn vào chức danh Bộ trưởng bộ văn hóa – Thông tin thay ông Nguyên Khoa Điềm nhận nhiệm vụ mới. Quốc hội cũng thống nhất với chính phủ trong việc bổ nhiệm ông Nguyễn Danh Thái, nguyên Phó chủ nhiệm UBTDTT làm bộ trưởng – Chủ nhiệm UBTDTT thay ông Hà Quang Dự.
Hội thảo về du lịch miền Trung
Tổng cục Du lịch cùng Ủy ban nhân tỉnh Khánh Hòa vừa tổ chức Hội thảo “Du lịch miền Trung – thực trạng và giải pháp” tại thành phố Nha Trang. Hội thảo tập trung thảo luận, phân tích nhiều vấn đề nhằm tìm ra giải pháp để du lịch miền Trung có thể phát triển bền vững. Trước mắt, cần sớm hoàn chỉnh quy hoạch các khu du lịch tỉnh, vùng và quản lý quy hoặc, đồng thời hoàn chỉnh đầu tư cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật du lịch.
Hội thảo khoa học “Trần Nhân Tông và di sản văn hóa Yên Tử”.
Tại Quảng Ninh, Hiệp hội Câu lạc bộ UNESCO Việt Nam và sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Quảng Ninh vừa phối hợp với tổ chức hội thảo khoa học “Trần Nhân Tông và di sản văn hóa Yên Tử”. Các đại biểu tham dự hội thảo đã tập trung thảo luận một số nội dung chính gồm: xác định rõ hơn về vai trò sáng lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử; khẳng định giá trị vật thể và phi vật thể của Di sản văn hóa Yên Tử. Sau hội thảo, hồ sơ khoa học về Yên Tử sẽ được lập, đề nghị chính phủ trình UNESCO công nhận Yên Tử là di sản văn hóa thế giới.
Xuân Bảo – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 26 (191) 2001

Các hội nghị quan trọng của ASEAN sắp diễn ra tại Hà Nội

Từ ngày 23 đến ngày 28/7/2001, tại Hà Nội sẽ diễn ra 5 hội nghị quan trọng của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), gồm: Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 34 vào các ngày 23 và 24/7; Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc vào ngày 24/7; Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Diễn đàn khu vực ASEAN lần thứ 8 vào ngày 25/7; Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao giữa ASEAN với 10 nước đối thoại là Úc, Ca-na-đa, Trung Quốc, EU, Ấn Độ, Nhật Bản, Niu-di-lân, Liên bang Nga, Hàn Quốc, Mỹ và với từng nước đối thoại vào các ngày 26 và 27/7; Hội nghị Bộ trưởng Hợp tác sông Mêkông – sông Hằng lần thứ 2 vào ngày 28/7.
Các cuộc họp như thế này vẫn được tổ chức định kỳ hàng năm, nhằm trao đổi đánh giá tình hình chính trị, kinh tế, an ninh trong khu vực và trên thế giới, kiểm điểm việc thực hiện các thỏa thuận đã thông qua tại các cuộc họp năm trước, đương thời đề ra các công việc cần tiến hành trong thời gian tới.
Dự án khu du lịch Dung Quất
Ban quản lý khu công nghiệp Dung Quốc tỉnh Quảng Ngãi vừa cấp giấy phép dự án đầu tư xây dựng khu du lịch – dịch vụ tại bình Chánh – Dung Quốc cho doanh nghiệp tư nhân Quang Châu (TP Hồ Chí Minh). Dự án được triển khai xây dựng trên diện tích 5 ha, tổng vốn đầu tư trên 18 tỷ đồng, bao gồm các hạng mục công trình: Khu đồi hồ cảnh, khu biệt thự, bể bơi, sân tennis, nhà hàng… Hiện nay, dự án đang được triển khai giải phóng mặt bằng, dự kiến hoàn thành vào tháng 2/2002 nhằm đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, sinh hoạt, vui chơi, giải trí cho các nhà đầu tư, chuyên gia, công nhân trong khu công nghiệp Dung Quốc và khách du lịch đến Quảng ngãi.
Uống rượu say trong khách sạn bị phạt đến 500 ngàn đồng
Nghị định số 31/2001 của Chính phủ vừa ban hành “ Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa – thông tin” quy định: hành vi say rượu ở khách sạn, công sở, vũ trường, trên phương tiện giao thông; hành nghề mê tín, lợi dụng tín ngưỡng để quyên góp tiền… bị phạt tiền từ 100 đến 500 ngàn đồng. Đối với lĩnh vực báo chí, người đe dọa, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự của nhà bao, cản trở nhà báo hành nghề hợp pháp hoặc ngược lại, người lợi dụng tư cách nhà báo để can thiệp trái pháp luật, cản trở hoạt động cơ quan, tổ chức nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự bị phạt từ một đến năm triệu đồng/lần vi phạm.
Du lịch lữ hành Lào Cai tăng gấp 3 lần
Sáu tháng qua, hoạt động du lịch trên địa bàn Lào Cai đã có mức tăng trưởng khá. Tổng doanh thu du lịch trên địa bàn đạt 26,5 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ năm ngoái và bằng 56% kế hoạch năm. Toàn ngành đã đón gần 200.000 lượt khách du lịch, tăng 85% so với cùng kỳ và bằng 80% kế hoạch năm; trong đó khách du lịch lữ hành có hơn 100.000 lượt, tăng gấp 3 lần so với cùng lỳ năm ngoái. Số ngày lưu trú của khách tăng nên doanh thu của nhà hàng, khách sạn cũng tăng 41%.
Lào Cai được xếp vào 1 trong 16 điểm du lịch quốc gia. Tỉnh đang lập đề án phát triển du lịch, trong đó đầu tư xây dựng Sapa, Bắc hà, Bát xát, thị xã Lào Cai trở thành khu du lịch hấp dẫn, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, có môi trường sinh thái bền vững, sạch đẹp.
Miễn thị thực cho khách du lịch tàu biển chưa triển khai được
Tổng cục Du lịch vừa đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép miễn thị thực đối với khách du lịch tàu biển trong thời gian dài chờ ban hành quy chế khách quá cảnh. Được biết, thủ tướng đã chấp thuận đề nghị trên vào cuối năm ngoái, song có thể không triển khai được vì trong văn bản chấp thuận có ghi miễn thị thực cho khách du lịch tàu biển theo Quy chế khách quá cảnh. Nhưng đến nay Bộ công an chưa ban hành Quy chế này. Khi nào Quy chế có hiệu lực vấn đề thị thực cho khách du lịch tàu biển sẽ áp dụng theo quy chế.
Nhiều chỉ tiêu về kinh tế đạt mức tăng trưởng tương đối cao
Vừa qua, Tổng cục Thống kê đã tổ chức họp báo về tình hình kinh tế xã hội cả nước trong 6 tháng đầu năm 2001. Ông Lê Mạnh Hùng, quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã thông báo: Nhiều chi tiêu về kinh tế của cả nước đã đạt mức tăng tương đối cao so với 6 tháng đầu năm 2000 như tổng sản phẩm trong nước tăng 7,1%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,1%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 7,6%… Tuy nhiên, ngoài kết quả trên, nền kinh tế vẫn tồn tại một số khó khăn lớn như thị trường tiêu thụ nông sản hàng hóa, sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và của các sản phẩm công nghiệp nói riêng còn yếu. Sự suy giảm của nền kinh tế khu vực cũng như kinh tế thế giới tác động tiêu cực đến diễn biến kinh tế – xã hội nước ta 6 tháng cuối năm. Theo nhận định của Tổng cục Thống kê, các cấp, các ngành, các địa phương cần phải có nhiều giải pháp đồng bộ và nỗ lực hơn nữa thì mới hoàn thành được nhiệm vụ kế hoạch năm 2001 mà Quốc hội đã đề ra.
Duy Phú – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(181)2001

Thi cử qua con mắt nhà văn Ngô Tất Tố

Ngô Tất Tố, nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn 1930 – 1945, nổi tiếng với tác phẩm bất hủ “Tắt đèn” nói về nỗi thống khổ của nông dân Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám. Sau đó là tác phẩm “Việc làng” phê phán hủ tục trong làng xã thời đó. Còn với “Lều chõng”, ông phê phán chế độ khoa cử, chính sách giáo dục và cách thức tuyển chọn nhân tài rất lỗi thời của nhà Nguyễn (từ năm Minh Mệnh thứ 12 – 1831 đến năm Kiến Phúc – 1884).
Thời ấy, Nhà nước phong kiến tổ chức các trường thi tập trung số thí sinh lớn. Ngô Tất Tố tả: “có năm mưa to gió lớn, nước ngập trường thi, ngồi trên chõng mà như trên đáy ao: đít áo, đũng quần nước bùn thấm bê bết. Mấy trăm con người, ai cũng như ai, mặt tái mét, môi thâm xì, áo quần lấm bê bết như người đào dưới đất lên”.
Thí sinh đi thi phải tự lo đủ thứ: tay xách, nách mang, cổ đeo, vai cõng… từ lều chõng,chiếu, ống đựng quyển, áo tơi… có người không chịu nỗi ngã chỏng gọng giữa đường, không còn đủ sức để dự kỳ thi. Đến cổng trường thì còn bị “lần giải lưng và moi các gấu áo, ống quần, bị cởi tung cả bộ gọng lều”… đề phòng mang tài liệu vào trường thi. Trong lúc làm bài vừa phải huy động cả trí não làm văn sách, vừa phải dè chừng bị phạm húy. Theo quy định thời đó, phải kiêng khinh húy, trọng húy của vua và cả tên cung điện, lăng tẩm trong kinh đô. Nếu muốn dùng phải viết chệch đi, chẳng hạn: hoa thành huê, vũ thành võ… Nếu làm trái, bài có hay mây cũng bị loại thẳng thừng.
Khó nhọc như thế mà thí sinh vẫn phải đua chen vì không học hành, thi cử đỗ đạt thì không còn đường tiến thân nào khác. Nhà văn Ngô Tất Tố đã qua hình tượng Vân Hạc, nhân vật trung tâm của tác phẩm để phê phán: “Thi với cử thế này thật nhục hơn con chó. Dù có đỗ đến ông gì, làm đến ông gì, cũng không bõ công”…
Cầu Mường Thanh kêu cứu
Sức hút mạnh mẽ nhất để khách du lịch đến với Điện Biên Phủ chính bởi chiến thắng lịch sử Điện Biên “ Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Vì thế, đến với Điện Biên Phủ, ai cũng muốn tận mắt chứng kiến các chứng tích lịch sử đánh dấu sự chiến bại của giặc Pháp vào buổi chiều 07/5/1954.
Hầu hết quần thể di tích lịch sử về chiến thắng Điện Biên Phủ tập trung ở lòng chảo Mường Thanh: Hầm Đờ Cát Tơ Ri, đồi A1, sân bay Mường Thanh. Trong dịp kỷ niệm 45 năm chiến thắng Điện Biên, các di tích này được đầu tư trùng tu, tôn tạo. Nhưng riêng cầu Mường Thanh, dường như đã bị bỏ quên, để nay nó trở nên hư hỏng nặng.
Dòng sông Nậm Rốn huyền diệu chia cánh đồng Mường Thanh thành hai dải Đông – Tây. Ngay từ khi nhảy dù xuống lòng chảo Điện Biên Phủ, tháng 11 năm 1953, thực dân Pháp đã nghĩ ngay tới việc phải thiết kế xây dựng một cây cầu bắc qua sông làm tuyến giao thông chính nối liền cánh đồng Mường Thanh thành một dải. Vì thế, cầu Mường Thanh được làm băng khung chịu lực với hệ thống sắt giằng kiên cố. Mặt cầu làm bằng các thanh gỗ đủ chịu lực cho xe tăng và đại pháo của Pháp qua lại. Đã 47 năm trôi qua, những thanh gỗ trên mặt cầu đã hỏng rất nhiều. Trên mặt cầu có gần 200 thanh, nay số thanh đã hỏng đã lên tới gần một nửa, trong đó có những thanh đã bị gãy, rơi mất, để lại mặt cầu những lỗ hỏng to khiến cho việc đi lại trở nên hết sức nguy hiểm.
Dù cách đó không xa là cây cầu mới bằng bê tông cốt thép làm tuyến giao thông chính, nhưng hàng ngày người dân nơi đây vẫn phải đi trên cây cầu này và hơn thế nữa, sẽ ra sao nếu một Điện Biên Phủ không có cầu Mường thanh? Cả Việt Nam chỉ có một Điện Biên Phủ, mà Điện Biên Phủ chỉ có một cầu Mường Thanh! Vì thế, thiết nghĩ, các cấp, các ngành cần quan tâm bảo vệ, trùng tu kịp thời di sản thiêng liêng này.
Đỗ Quốc Bảo – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(181)2001

Lịch sử các chữ viết Việt Nam

Chuyên mục sổ tay hướng dẫn viên du lịch kỳ này xin giới thiệu vắn tắt để các bạn cùng tham khảo về lịch sử các loại chữ viết của Việt Nam từ xưa đến nay.
Chữ Hán: Chữ Hán vào Việt Nam theo con đường giao lưu văn hóa bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên. Hiện nay, ở Việt Nam còn lưu giữ một số hiện vật như đỉnh cổ có khắc chữ tượng hình chữ Hán cổ. Điều này một phần chứng minh được rằng chữ Hán cổ xuất hiện ở Việt Nam khá sớm và thực sự trở thành phương tiện ghi chép và truyền thống trong loài người Việt kể từ những thế kỷ đầu trước công nguyên trở đi. Đến thế kỷ VII- IX chữ Hán và tiếng Hán được sử dụng ngày càng rộng rãi ở Việt Nam. Thời kỳ này tiếng Hán được sử dụng như một phương tiện giao tiếp, giao lưu kinh tế thương mại với Trung Quốc. Do Việt Nam bi ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong khoảng thời gian hơn 1 ngàn năm, vì hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán có ảnh hưởng to lớn như thế nào đối với nền văn hóa của nước Việt Nam xưa. Từ sau thế kỷ thứ X, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trọng để phát triển văn hóa dân tộc.
Chữ Nôm: Dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, một văn tự ngoại lai không thể nào đáp ứng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép các diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm của bản thân người Việt, Chĩnh vì vậy chữ Nôm đã ra đời để bù đắp cho việc chữ Hán không đáp ứng nổi.
Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét, thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếng việt. Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn.
Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn đồng hóa chữ Hán, tức là dùng chữ Hán để phiên âm các từ Việt thường là tên người, tên vật, tên đất, cây cỏ muông chim, đồ vật… xuất hiện lẻ tẻ trong các văn bản Hán. Những từ chữ Nôm này xuất hiện vào thế kỷ đầu sau công nguyên đặc biệt rõ nét nhất là vào thế kỷ thứ VI.
Giai đoạn sau: Ở giai đoạn này, bên cạnh này tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm từ tiếng việt, đã xuất hiện các chữ Nôm tự tạo nên một số nguyên tắc nhất định. Loại chữ Nôm tự tạo này, sau khi phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt. Từ thời lý thế kỷ XI đến thời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực sự hoàn chỉnh.
Theo sử sách đến naycòn ghi lại được một số tác phẩm đã được viết bằng chữ Nôm như đời Trần có cuốn “Thiên Tông Bản Hạnh”. Đến thế kỷ XVIII – XIX chữ Nôm đã được phát triển đến mức cao, át cả địa vị chữ Hán. Các tác phẩm như hịch Tây Sơn, Khoa thi hương dưới thời Quang Trung 1789 đã có bài thi làm bằng chữ Nôm. Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng được viết bằng chữ Nôm là những ví dụ.
Như vậy, có thể thấy chữ Hán và chữ Nôm có những khác nhau cơ bản về lịch sử ra đời, mục đích sử dụng và mỗi chữ có bản sắc riêng về văn hóa.
Chữ Quốc Ngữ hiện nay: Việc chế tác chữ Quốc ngữ là một công việc tập thể trong nhiều linh mục dòng tên người châu u, trong đó nổi bật lên vai trò của Francesco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antoni Barbosa và Alexandre De Rhodes. Trong công việc này có sự cộng tác tích cực và hiệu quả của nhiều người Việt Nam, trước hết là các thầy giảng Việt Nam giúp việc cho các linh mục người u. Alexandre De Rhodes đã có công lớn trong việc góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bổ sung quốc ngữ. Đặc biệt là ông đã dùng bộ chữ ấy để biên soạn và tổ chức dấu ấn lần đầu tiên cuốn từ điển Việt – Bồ – La trong đó có phần về ngữ pháp tiếng việt và cuốn phép giảng tám ngày. Xét về ngôn ngữ thì cuốn diễn giải vắn tắt về tiếng An Nam hay tiếng đàng ngoài in chung trong từ điển có thể được xem như công trình đầu tiên khảo cứu về ngữ pháp. Còn cuốn pháp giải tám ngày có thể được coi như tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ, sử dụng lời văn tiếng nói bình dân hàng ngày của người Việt Nam thế kỷ XVII.
Tuy chữ Quốc ngữ của Alexandre De Rhodes năm 1651 trong cuốn từ điển Việt Bồ La đã khá hoàn chỉnh nhưng cũng phải chờ đến từ điển Việt –La 1772, tức là 121 năm sau, với những cải cách quan trọng của Pigneau de Beshaine thì chữ quốc ngữ mới có diện mạo giống như hệ thống chữ Việt mà chúng ta đang dùng hiện nay.
Lê Trọng Túc – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 26 (191) 2001