Giải phóng mặt bằng xây cầu Cần Thơ

Bộ trưởng bộ giao thông vận tải Lê Ngọc Hoàn đã ký quyết định phê duyệt phương án thực hiện và kinh phí giải phóng mặt bằng tái định cư xây dựng dự án cầu Cần Thơ. Theo đó dành kinh phí 141,6 tỷ đồng cho việc đền bù hỗ trợ dân di dời nhà cửa, xây dựng khu tái định cư… Tổng diện tích mặt bằng giải tỏa để phục vụ xây dựng cầu Cần Thơ là 265,8 ha, bắt đầu tại km 2061 trên quốc lộ 1A thuộc địa phận huyện Binh Minh, tỉnh Vĩnh Long, kết thúc tại km 2077 trên quốc lộ 1A huyện Châu Thành tỉnh Cần Thơ, theo kế hoạch đến ngày 30 tháng 5 năm 2000 sẽ hoàn thành đo đạc địa chính, lập hồ sơ thu hồi đất, tháng 6 năm 2000 xây dựng khu tái định cư, tháng 9 đến tháng 12 năm 2000 phê duyệt và chi trả đền bù cho các hộ dân và đến đầu năm 2001 sẽ bàn giao cho các đơn vị thi công.
Phát hiện nhiều điểm có vàng ở Quảng Trị
Các nhà khoa học thuộc trường đại học mỏ địa chất Hà Nội vừa công bố tài liệu khoa học cho biết trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có nhiều điểm có vàng với trữ lượng lớn khoảng 60 triệu tấn trong đó hai mỏ thuộc xã Tà Long, Đakrong, và thượng nguồn sông bến Hải xã Vĩnh Ô, Vĩnh Linh, là hai điểm có nhiều triển vọng vàng công nghiệp. Mặc dù vậy, các điểm có vàng nằm ở các vùng xã xa xôi nên việc quản lý và khai thác sẽ rất khó khăn.
Tồn đọng hơn 150000 án dân sự/ năm
Theo thống kê của bộ tư pháp mỗi năm nước ta tồn đọng trung bình hơn 150.000 án dân sự trên năm, vụ việc về án dân sự không thi hành được hơn 60% số này thuộc về việc thi hành án dân sự trong các án hình sự. Trong số các nguyên nhân gây ra tình trạng trên, điều đáng lưu ý là 11% bản án dân sự tồn đọng thuộc các vụ án kinh tế, ma túy nhưng bọn tội phạm đã tẩu tán tài sản từ trước. Ngoài ra còn có một số kinh doanh khác như đối tượng phải thi hành án không có tài sản hoặc nguồn thu nhập, đối tượng là cơ quan, tổ chức giải thể, không rõ địa chỉ. Được biết các vụ án dân sự liên quan đến ma túy thì rất khó thi hành.
Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro
Trụ sở chính 105 Lê Lợi, thành phố Vũng Tàu
Điện thoại 64 83987172
Fax 64 839867
Vietsovpetro liên doanh giữa Việt Nam và Liên Bang Nga là đơn vị khai thác dầu khí lớn nhất Việt Nam. Ngày thành lập 19 tháng 6 năm 1981. Vùng hoạt động mỏ Bạch Hổ, mỏ Rồng, mỏ Đại Hùng. Năm 1999 khai thác dầu đạt 12,438 triệu tấn kể cả mỏ Đại Hùng tiếp quản vào tháng 2 năm 1999 từ Petronas Carigaly. Đưa khí vào bờ 1,4 tỷ mét khối. Sản lượng dầu khai thác từ năm 1986 đến năm 1999 đạt 75,715 triệu tấn. Cung cấp khí vào bờ từ năm 1995 đến 1999 đạt 3,5 tỷ mét khối. Năm 2000 Vietsovpetro sẽ khai thác 13 triệu tấn dầu, đưa khí đồng hành vào bờ 1,5 tỷ mét khối. Các đơn vị trực thuộc XDNL Vietsovpetro có đủ năng lực trong các lĩnh vực: nghiên cứu cấu trúc địa chất, khoan tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí. Xây lắp khảo sát, bảo dưỡng các công trình dầu khí biển. Vận tải biển, cung cấp các dịch vụ bến cảng, kho chứa hàng. Dịch vụ địa vật lý giếng khoan. Phòng chống cháy nổ, sự cố phun trào dầu khí và bảo vệ môi trường.
T.T-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(133)2000.

Từ chuyện lệ phí ở hòn Trống Mái

Đến bãi biển Sầm Sơn (Thanh Hóa) nghỉ mát, du khách thường được mời chào làm một “tour ngắn” ghé thăm các di tích danh thắng ở quanh vùng như đền Độc Cước, hòn Trống Mái, chùa Cô Tiên….Từ các nhà nghỉ lên đến các địa điểm du lịch vừa nêu, đi – về chỉ mất nửa ngày, nên thường hiếm ai từ chối.
Để đến hòn Trống Mái, khách thường được mời chào theo 2 ngả đường. Ngả thứ nhất: ngồi lên ô tô đi hết trục đường Nguyễn Du, leo dốc và đến tận nơi. Ngả thứ hai – thường được cánh xích lô nhiệt tình chỉ dẫn, là ngồi xe ôm hoặc xích lô đến chân núi (thuộc địa phận xóm Mới, phường Bắc Sơn) sau đó leo dốc chừng 100m là lên tới nơi.
Theo thông lệ năm nay, trước khi đặt chân đến Sầm Sơn, khách đã phải nộp 10.000đồng/người để có được “giấy vào cửa”. Đây là vé thắng cảnh – nghỉ mát, mà nếu hiểu kỹ ra trong đó đã có cả phí bảo hiểm, tiền duy trì bến bãi, lệ phí danh thắng….Nhưng nếu đến với hòn Trống Mái lại có thêm “lệ” riêng. Nếu đi bằng ô tô (theo đường chính) sẽ phải nộp bổ đầu đồng đều mức lệ phí 20.000đồng/xe. Còn nếu đi theo đường phụ, trước khi leo dốc khách sẽ bị chặn lại bởi một ba-ri-e và một đội thu ngân. Phải bỏ ra 2.000đồng/người, có khi linh động (!?) chỉ tính theo đầu xe xích lô là 2.000đồng/xe (chở 2-3 người) thì mới được đi qua đây. Tiền này là lệ phí gì vậy ? Theo người thanh niên thu tiền của người viết bài này sáng 12/7/1999, đây là tiền dành cho “bảo vệ an ninh”.
Vì sao lại có chuyện phí đè lên phí như vậy ? Theo một người giải thích, sở dĩ có chuyện thu phí này là do Ủy ban nhân dân phường Bắc Sơn tổ chức theo hình thức giao khoán. Tổ chức thu phí ở trục đường chính được khoán 7 triệu đồng/vụ (3 tháng), tổ thu đường phụ là 3 triệu đồng/vụ. Đã làm ắt phải có lãi. Để đủ mức nộp khoán và lãi riêng, nghĩa là phải tận tu, phải áp dụng “tiền không xuất, chân chớ bước”.
So sánh mức thu ở hai ngả lên hòn Trống Mái, dễ thấy có độ vênh nhau đến kỳ lạ. Lạ hơn, là thu ở đường phụ chẳng có biên lai, chứng từ gì giao cho khách. Lạ nữa là sau khi trả tiền “bảo vệ an ninh” nhưng suốt chặng leo dốc khách bị hàng rong bán hương và quạt giấy “đeo bám” nhiệt tình đến sốt ruột, mà chẳng hề thấy nhân viên bảo vệ nào ngăn chặn, giải tỏa. Dọc con đường vượt dốc lổn nhổn, gập ghềnh cũng chẳng thấy dấu tích tiền an ninh bỏ ra đầu tư cho khách dễ lên xuống. Và cuối cùng, dù lên núi theo ngả nào, ở xung quanh hòn Trống Mái khách vẫn bị đủ thứ dịch vụ các loại: cho thuê ngựa, thuê hình nộm để chụp ảnh, hàng rong (đồ lưu niệm, vàng hương, quạt giấy, mía….) “tấn công” không theo một trật tự nào.
Tiền “lệ phí an ninh” mà phường Bắc Sơn đã thu để dành làm việc gì ? Mười triệu đồng phải chăng quá lớn so với hàng tỷ đồng (thu từ tiền vé thắng cảnh – nghỉ mát) nên khoản lệ phí ở hòn Trống Mái vẫn cớ “một mình một kiểu” khiến khách đến đây không khỏi phiền lòng về những nét thiếu văn hóa trong kinh doanh du lịch của một vùng đất lấy kinh tế du lịch làm mũi nhọn ?
Hoàng Long – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

“Vua” xuất bản sách hướng dẫn du lịch

25 tuổi, vừa xây dựng gia đình và nhận bằng thạc sĩ khoa quản trị kinh doanh tại trường đại học London xong, Jony Wheeler làm ngay những gì mà số đông bạn trẻ phương Tây đã làm. Anh quyết định dành một năm để du lịch khắp thế giới trước khi “an cư lạc nghiệp”. Anh cùng vợ là Maureen đã mua một ô tô second-hand. Rồi trên chiếc ô tô đó, vợ chồng anh bắt đầu cuộc du ngoạn qua châu u và Trung Đông. Khi đến Áp-ga-nixtan, anh đã bán chiếc ô tô cũ đó, để lấy một ít tiền lãi. Sau đó, với số tiền ít ỏi họ lại du lịch tiếp bằng xe buýt, tàu hỏa và đi nhờ xe qua Ấn Độ, Đông Nam Á, rồi đến Bali, vợ chồng anh đã đến Xít-ni (Ô-xtrây-li-a). Tại đây, họ đã làm việc 3 tháng để có đủ tiền đáp máy bay trở về Anh, tổ quốc của họ. Trở về Anh, vợ chồng Jony Wheeler quyết định thành lập nhà xuất bản các ấn phẩm “Hành tinh đơn độc” (Lonely Planet Publications) – một công ty do gia đình Wheeler kiểm soát, trụ sở đặt ở Melbourne, được coi là một trong những nhà xuất bản sách du lịch lớn nhất thế giới – với hơn 250 đầu sách, chủ yếu là sách hướng dẫn du lịch. Với việc cho xuất bản sách hướng dẫn du lịch đến Bắc Cực hồi tháng 11 năm ngoái, gia đình Wheeler gần như đã xuất bản đủ các ấn phẩm hướng dẫn du lịch toàn cầu. Các sách hướng dẫn này đang giúp các nhà du lịch phương Tây hiểu biết thêm về những vùng du lịch xa hơn với giá rẻ. Đồng thời cũng quảng cáo cho ngành du lịch ở nhiều nước đang phát triển. Hiện nay “Lonely Planet Publications” đang tận dụng làn sóng du lịch ngược lại: những người giàu có mới xuất hiện từ châu Á và Mỹ Latinh sang du lịch tại châu u, Mỹ, Canada, Ô-xtrây-li-a và Niu-Dilơn. Năm 1998, Lonely Planet in khoảng 2,5 triệu sách hướng dẫn du lịch bằng tiếng Anh, Pháp và các tiếng khác. Số sách này sẽ tăng lên 3 triệu trong năm này, với số tiền bán trị giá hơn 30 triệu đô la Ô-xtrây-li-a (chừng 23 triệu USD).
Vợ chồn Wheeler bước vào nghề xuất bản khá chật vật. Để đáp ứng nhiều vấn đề mà họ tiếp nhận được trong chuyến đi Ô-xtrây-li-a, họ đã quyết định viết một cuốn sách về những kinh nghiệm của họ. Tên cuốn sách là “Sang châu Á với giá rẻ”. Jony Wheeler kể lại: “Chúng tôi cùng nhau viết trên bàn ăn ở Xít-ni. Chúng tôi in chúng với giá rẻ. Sau đó, chúng tôi dùng ghim kẹp lại và tự sửa chữa. Tôi nghỉ một ngày và mang sách đến các cửa hàng. Và thật ngạc nhiên, chúng tôi bán được 1500 cuốn trong tuần đầu tiên. Chúng tôi in tiếp 3500 cuốn và cũng bán hết veo. Chúng tôi lại in thêm 3500 cuốn khác. Sau một năm cùng du lịch qua Đông Nam Á bằng một chiếc xe máy, năm 1974, vợ chồng Jony Wheeler đã in cuốn sách đầu tiên của họ với nhan đề “Đông Nam Á tằn tiện”, đạt tiêu chuẩn chuyên nghiệp.
Những năm đầu viết, xuất bản và phát hành các sách hướng dẫn du lịch là vô cùng khó khăn đối với gia đình Wheeler. Đến năm 1979, với 16 đầu sách, Lonely Planet mới thu được số tiền ít ỏi. Bước ngoặt kinh doanh của gia đình này là vào năm 1952, khi một cuốn sách hướng dẫn về Ấn Độ do Jony Wheeler và hai người khác viết đoạt giải sách hướng dẫn du lịch Thomas Cook. Theo Wheeler giải thưởng này đã nâng cao uy tín và mở ra triển vọng sáng sủa cho Lonely Planet. Cũng kể từ đó, ấn phẩm về sách hướng dẫn du lịch của Lonely Planet giành được nhiều giải thưởng.
Nói về sự thành công của mình, Wheeler giải thích rằng: sách hướng dẫn du lịch phải chính xác, lời khuyên du lịch phải thiết thực và viết chi tiết như thế này: “Khi bạn ra khỏi ga tàu hỏa, rẽ phải và ở đó có một khách sạn sang trọng, rẽ trái bạn có thể bị trấn lột. Sách hướng dẫn cũng phải làm cho người đọc hiểu rõ hơn những nơi họ tới thăm. Nếu bạn biết chút ít về lịch sử và văn hóa địa phương mà bạn tới du lịch, bạn sẽ vui thích hơn. Ở các sách hướng dẫn của Lonely Planet đều nói rõ cho du khách biết phải chuẩn bị chu đáo như thế nào khi đến thăm từng nơi. Ngoài 11 cuốn sách hướng dẫn những cuộc du lịch ít tốn kém ở châu Á, châu Phi, Trung Đông, châu u và Mỹ, Lonely Planet còn xuất bản 113 sách hướng dẫn hành trang du lịch đến từng nước, nhóm nước hoặc những khu vực trong những nước rộng lớn. Những sách này cung cấp thông tin về: đến nơi nào, làm gì, xem gì, ăn và ngủ ở đâu tiện lợi đối với trẻ em và những bé còn địu sau lưng…Lonely Planet còn xuất bản cả sách hướng dẫn về dạo chơi, về thành phố, tập bản dồ du lịch và sách ghi các câu giao tiếp thông thường bằng các thứ tiếng cho khách du lịch.
Hiện nay, Lonely Planet đã nối mạng Internet, cung cấp mọi hướng dẫn cho khách du lịch và những thông tin mới nhất về du lịch. Mạng nối này chẳng khác gì một “cuốn sách hướng dẫn thu gọn lại”, đáp ứng mọi thông tin về du lịch cho toàn thế giới.
Vũ Phúc – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Việt Nam và các nước Bắc Âu hướng vào thế kỷ 21

Nhận lời mời của thủ tướng các nước Thụy Điển, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch, Thủ tướng Phan Văn Khải sang thăm chính thức 4 nước trên từ ngày 20/9 đến ngày 2/10/1999. Đây là chuyến thăm các nước Bắc u đầu tiên trên cương vị thủ tướng Phan Văn Khải nhằm tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác trên nhiều lĩnh vực giữa Việt Nam với các nước này, thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư, đồng thời đặt nền móng cho một khuôn khổ quan hệ mới giữa Việt Nam với các nước Bắc Âu hướng vào thế kỷ 21.
Việt Nam và các nước Bắc Âu từ lâu đã có quan hệ hữu nghị hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Mặc dù xa cách về địa lý, thời gian, không gian, những người bạn Bắc u luôn dành cho Việt Nam tình cảm tốt đẹp và sự ủng hộ tích cực đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Thụy Điển, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch là những nước phương tây đầu tiên công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Các nước Bắc Âu viện trợ sớm nhất cho Việt Nam ngay từ đầu những năm 70, với tổng viện trợ không hoàn lại tính đến tài khóa 1999/2000 đạt gần 2,3 tỷ USD. Các nước Bắc u viện trợ cho Việt Nam không chỉ trên phương diện song phương mà còn đa phương, thông qua các tổ chức quốc tế như: UNDP, UNESCO… và các tổ chức phi chính phủ như: Hội chữ thập đỏ, hội cứu trợ trẻ em Thụy Điển… đồng thời là những nước sớm ủng hộ công cuộc đổi mới, xóa nợ cho Việt Nam, tích cực hỗ trợ Việt Nam bình thường hóa quan hệ với các tổ chức tài chính và tiền tệ quốc tế, thiết lập và tăng cường quan hệ với EU. Kim ngạch buôn bán hai chiều giữa Việt Nam và các nước Bắc Âu mỗi năm đạt khoảng 300 triệu USD trong đó ta xuất khoảng 180 triệu USD chủ yếu là nguyên vật liệu thô, gạo, hàng may mặc…và nhập vào khoảng 120 triệu USD.
Việt Nam và các nước Bắc u cũng đã ký hầu hết các hiệp định hợp tác phát triển hợp tác kinh tế khoa học kỹ thuật, thương mại, khuyến khích và bảo hộ đầu tư, trốn đánh thuế hai lần, hợp tác vận chuyển hàng không… tạo cơ sở pháp lý cho sự hợp tác giữa Việt Nam với từng nước. Tuy nhiên quan hệ hợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và các nước Bắc u còn ở mức khiêm tốn. Na Uy hiện có 4 dự án đầu tư vào các lĩnh vực chế biến gỗ, dầu khí, trị giá 36,5 triệu USD.Phần Lan chỉ có một dự án BOT nhà máy điện tại vũng tàu tổng đầu tư 110 triệu USD. Đan Mạch cũng chỉ có 2 dự án đầu tư là liên doanh nhà máy bia Đông Nam Á và công ty bia Huế, với số vốn đầu tư 10,4 triệu USD.
Thuỵ Điển, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch đều là những nước có nền công nghiệp phát triển ở Châu u và trên thế giới. Phần Lan nổi bật với ngành công nghiệp giấy và gỗ, hàng năm xuất khẩu khoảng 9 triệu tấn, đứng hàng thứ hai trên thế giới sau Canada. Thuỵ Điển nổi bật với ngành công nghiệp luyện kim, mỗi năm sản xuất khoảng 4 triệu tấn thép, trong đó xuất khẩu trên 3 triệu tấn. Na Uy nổi bật với công nghiệp dầu khí, ước tính trên 3000 tỷ m2 khí đốt và trên 10.000 tỷ tấn dầu lửa, dự kiến đến hết 2005 lượng dầu khai thác được khoảng 30% trữ lượng. Đan Mạch là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu Turbin chạy bằng sức gió và còn là nước có nền công nghiệp phát triển rất cao, hàng xuất khẩu khoảng 30 tỷ USD các mặt hàng lương thực và thực phẩm. Bốn nước trên có tổng số 23 triệu dân, với mức thu nhập khoảng từ 25.000 USD đến trên 33.000 USD/người/năm và nền kinh tế bằng khoảng 80% -90% nền kinh tế của Anh. Tiềm năng của các nước trên là rất lớn. Hy vọng rằng hướng vào thế kỷ 21, quan hệ hợp tác kinh tế thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và các nước nói trên sẽ ngày càng phát triển phù hợp với tiềm năng và lợi ích của mỗi nước.
Nguyễn Thị Sự – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Cần khai thác thế mạnh du lịch văn hóa Chăm ở Ninh Thuận

Ninh Thuận, mảnh đất cực nam ủa duyên hải miền Trung từ lâu đã thu hút khách du lịch bởi có những bãi biển đẹp như Ninh Chữ, Cà Ná, Vịnh Vĩnh Hy… Ninh Thuận còn biết đến vì ở đây còn là nơi duy nhất còn cộng đồng người Chăm sinh sống, những đền tháp, những lễ hội của người Chăm luôn là đề tài hấp dẫn bao nhà nghiên cứu, những người yêu văn hóa Chămpa.
Song vấn đề được đề cập ở đây là Ninh Thuận nên chọn cho mình một hướng đi đặc trưng, tạo cho mình một sản phẩm du lịch đặc thù địa phương thì lâu nay, ngành du lịch Ninh Thuận vẫn chưa chú trọng. Vì nếu là du lịch nghỉ dưỡng, leo núi, cảnh quan thì Ninh Thuận không thể so với Lâm Đồng; Nếu chọn du lịch biển, Ninh Thuận không thể bì kịp với Khánh Hòa; du lịch văn hóa – lịch sử không bì kịp với Thừa Thiên Huế. Nên chăng, một hướng riêng của Ninh Thuận mà không đâu có được là Du lịch văn hóa Chăm, khai thác thế mạnh của các di tích, các lễ hội, các làng nghề truyền thống của người Chăm để thu hút khách du lịch đến với Ninh Thuận.
Văn hóa Chăm là một di sản đồ sộ, trải dìa suốt dải đất miền Trung, trong đó Ninh Thuận còn may mắn giữ gìn được khá nhiều di tích đền tháp đặc trưng cho kiến trúc cổ Chămpa như tháp Hòa Lai (thế kỷ 9 – cổ nhất), tháp Poklonggrai (lớn nhất) và tháp Porome (tháp trẻ thế kỷ 17). Tháp Poklonggrai là cụm thám còn giữ gìn được tương đối trọn vẹn nhất trong hàng chục tháp Chàm hiện còn ở miền Trung. Hằng năm, lễ hội Katê được tổ chức tại đây với nhiều thủ tục tế lễ mang đậm dấu ấn tín ngưỡng phồn thực của người Chăm. Qua lễ hội người ta có thể tìm hiểu được quan niệm về tín ngưỡng âm dương, quan niệm về vũ trụ, năng khiếu thẩm mỹ… mang đặc thù nét văn hóa Á Đông của cộng đồng người Chăm. Văn hóa Chăm còn lưu giữ được qua từng đường nét tinh xảo của thổ cẩm Chăm. Làng Chăm Mỹ Nghiệp mấy năm gần đây đã được khách du lịch trong và ngoài nước biết đến nhờ sản phẩm của cơ sở dệt thổ cẩm Inrahani của bà Thạch Thị Trụ và các cơ sở khác. Nghề dệt thổ cẩm của người Chăm phát triển rực rỡ từ xa xưa, cung cấp vải mặc cho dân chúng và các bậc vua chúa. Sản phẩm của họ còn vươn xa cung cấp cho các tộc người ở Tây Nguyên. Sản phẩm thổ cẩm ở đây đã có thị trường tiêu thụ rộng rãi trong và ngoài nước, theo chân du khách ra nước ngoài. Du khách đến Ninh Thuận đều không quên ghé thăm làng Mỹ Nghiệp để mua hàng kỷ niệm. Từ 10.000 đồng trở lên, bạn có thể mua được một ví cầm tay, hoặc xách tay, cặp làm việc, chăn đắp, khăn trải bàn… nhìn những tấm ảnh, những dòng lưu bút của du khách lưu tại đây chứng tỏ du khách rất thích thú được xem những bàn tay khéo léo của các cô gái Chăm qua từng con chỉ, từng nét hoa.
Làng gốm Bàu Chúc tại thị trấn Ninh Phước cũng là điểm du khách thật thích thú được xem những người phụ nữ ở đây làm gốm. Không cần bàn xoay, thợ gốm Bàu Trúc vừa đi vòng quanh sản phẩm của mình vừa dùng bàn tay khéo léo chuốt, nặn nên sản phẩm. Những chiếc om, nhựng chum, ấm đất, lọ hoa… qua tay những người thợ gốm đều trọn trịa, cân đối không kém gì làm bằng bàn xoay. Bà Đàng Thị Phan – một nghiệp nhân cho biết: “Sản phẩm gốm Chăm đẹp ở màu gốm, ở nét thô ráp của bàn tay thủ công. Nhờ độ già non của lửa, tỉ lệ đất nhồi với phụ gia mà sản phẩm gốm Chăm Bàu Chúc đã tạo được uy tín với khách hàng”. Ngoài những vật dụng hàng ngày như chum nước, nồi đất, ấm đất, người thợ ở đây còn biết làm các kiểu bình hoa, bình trà, đỉnh xông trầm… theo đơn đặt hàng của khách tận Hà Nội, Hải Dương…
Được đến thăm và tìm hiểu phong tục tập quán, sinh hoạt cộng đồng của người Chăm là một điều lý thú đối với khách du lịch. Nghiên cứu và phổ biến nhưng vốn quý này đối với du khách là một việc làm công phu. Ngành du lịch Ninh Thuận đã và đang suy nghĩ, tìm tòi cách tháo gỡ cho mình. Tuy vậy, những năm qua, du lịch văn hóa Chăm vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Ông Thái Đức Dung, giám đốc công ty du lịch Ninh Thuận cho biết: “Năm 1998, Ninh Thuận đón hơn 41.300 khách du lịch nhưng khách du lịch văn hóa Chăm thông qua Công ty, kể cả lễ hội Katê mới khoảng 200 khách”. Nói về nguyên nhân này, ông Dũng cho rằng: “Vì ngành du lịch chưa xác định đây là sản phẩm chính của mình, việc tuyên truyền quảng bá về văn hóa Chăm chưa rộng rãi đến với khách du lịch, với nhân dân trong nước. Trong lúc khó khăn, dịch vụ khách sạn, ăn uống, nghỉ dưỡng đã được Công ty chú trọng hơn để nuôi sống Công ty”.
Tại buổi làm việc mới đây giữa đại diện văn phòng Tổng cục du lịch, báo tuần du lịch tại miền trung, lãnh đạo 2 sở Văn hóa – thông tin và thương mại – du lịch Ninh Thuận rất tâm đắc với cách đặt vấn đề khai thác vốn văn hóa Chăm để phục vụ phát triển du lịch. Ông Lê Minh Pong – phó giám đốc sở VH-TT Ninh Thuận cho rằng: “Chỉ có thông qua du lịch, văn hóa Chăm mới có điều kiện tiếp xúc với bên ngoài. Nhờ đó, người ta hiểu về người Chăm hơn, hiểu được nhưng điều kì diệu của văn hóa Chămpa. Và nhờ có vậy, văn hóa Chăm mới có điều kiện bảo tồn, khai thác có hiệu quả”.
Ngành du lịch Ninh Thuận nêu quyết tâm mở tour du lịch văn hóa Chăm để giới thiệu với du khách tham quan, tìm hiểu tháp Chàm, các làng nghề truyền thống, các lễ hội đặc sắc của người Chăm…
Nguyễn Văn Thiêng-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Lái xe công ty du lịch 12 bị hành hùng dã man

Ông Đỗ Hiến, phó giám đốc Công ty Du lịch 12 (217 Đội Cấn – Hà Nội) cho biết: Chiều ngày 6-7-1999, anh Đỗ Bá Khôi lái xe taxi số 158 biển kiểm soát 29L-0443 nhận lệnh điều động của Trung tâm taxi 12 đến phố Phan Bội Châu đón anh Trần Đức Long (người Thành phố Hồ Chí Minh) đến một số điểm du lịch trong Hà Nội. Buổi tối cùng ngày hai người vào nhà hàng Ngư Thuyền (phường Giảng Võ, quận Ba Đình) ăn tối, hát karaoke. Đến khoảng 23h, anh Long phát hiện mất ví tiền và nghi tiếp viên nhà hàng lấy. Nhân viên nhà hàng lại cho rằng khách định giở trò quỵt tiền. Hai bên đang tranh cãi thì 5-6 thanh niên cùng nhân viên nhà hàng Ngư Thuyền là Nguyễn Giang Phúc xông vào đánh hội chợ rất dã man hai anh Long, Khôi. Bọn côn đồ dùng búa đánh rách mặt anh Khôi khiến anh phải nhảy xuống hồ Giảng Võ, liền bị chúng lôi lên đánh tiếp. Sau đó, chúng nhốt hai người vào phòng kín, cướp một số tài sản riêng, đập phá xe taxi. Đến 4h20’ ngày 7-7 nhà hàng Ngư Thuyền cho phép anh Khôi liên lạc với Trung tâm điều hành taxi 12. Trung tâm cử người đưa anh Khôi vào bệnh viện Xanh Pôn cấp cứu trong tình trạng toàn thân bị thương tích, phải khâu 7 mũi ở mặt. Nhận được tin báo, Công an phường Giảng Võ đã đến hiện trường giải thoát anh Long, đưa một số đối tượng liên quan về cơ quan công an thẩm vấn.
Theo ông Đỗ Hiến, cán bộ công nhân viên Công ty Du lịch 12 rất phẫn nộ trước hành vi bắt giữ, đánh người dã man xảy ra ngay tại Hà Nội. Nội dung vụ việc đang được Công an quận Ba Đình làm rõ. Báo Tuần Du Lịch sẽ tiếp tục cung cấp cho bạn đọc những thông tin mới nhất trong số báo tới.
Những tín hiệu đáng mừng của du lịch Thanh Hóa
Nhân kỷ niệm 39 năm ngày thành lập ngành Du lịch Việt Nam (9-7-1960 – 9-7-1999) và hưởng ứng chương trình hành động động quốc gia về du lịch và các sự kiện du lịch năm 2000.
Ngành du lịch Thanh Hóa đã xây dựng và được Thường trực Ủy ban Nhân dân tỉnh thông qua “Chương trình hành động về Du lịch Thanh Hóa hướng tới thiên niên kỷ mới” đây là sự quan tâm của Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân đối với Du lịch Thanh Hóa, có ý nghĩa quan trọng cho những bước đi tiếp theo trong những năm tới. Cũng trong đợt này ngành Du lịch Thanh Hóa đã phát động thi đua trong các khách sạn lập nhiều thành tích chào mừng ngày Du lịch Việt Nam, với nhiều nội dung và hình thức phong phú như: tổ chức tọa đàm nhân ngày truyền thống của ngành – tổ chức nhiều hình thức tuyên truyền trên Đài, Báo, Truyền hình địa phương, treo Cờ tổ quốc, pa nô, áp phích, băng khẩu hiệu tại những nơi trang trọng nhiều người biết ở hai trung tâm lớn thành phố Thanh Hóa, thị xã Sầm Sơn, trong các khách sạn, đặc biệt tổ chức chương trình khuyến mãi ở các khách sạn trong ngày 9-7-1999 cho du khách.
Đây là bước khởi động cho những sự kiện Du lịch năm 2000 đang là nhiệm vụ trọng tâm của Du lịch Thanh Hóa.
Tin du lịch Hội An
Sáu tháng đầu năm 1999, thị xã đón 82.947 lượt khách đến tham quan trong đó có 37.051 lượt khách nước ngoài. Tổng doanh thu đạt 13,65 tỷ đồng bằng 51,4% kế hoạch năm 1999, tăng 34,58% so với cùng kỳ năm 1998.
Công suất sử dụng phòng bình quân đạt 53,86%. Đến nay, toàn thị xã có 16 khách sạn với tổng số 435 phòng đủ tiêu chuẩn đón khách quốc tế trong đó có 1 khách sạn 3 sao và 1 khách sạn 1 sao.
Tin du lịch Quảng Nam
Trong 6 tháng đầu năm 1999, ngành du lịch Quảng Nam đón được: 45.530 lượt khách đạt 52,33% kế hoạch năm 1999, bằng 130,81% so với cùng kỳ năm 1998 trong đó lượt khách quốc tế 34.294 lượt đạt 52,76% kế hoạch năm 1999, bằng 129,09% so với cùng kỳ năm 1998.
Tổng số ngày khách là 82,667 bằng 132,6% so với cùng kỳ năm 1998, trong đó số ngày khách quốc tế 67,819 bằng 136,27% so với cùng kỳ năm 1998. Tổng doanh thu trong 6 tháng đầu năm 1999 là 15.180 triệu đồng đạt 54,42% kế hoạch năm 1999, bằng 129,26% so với cùng kỳ năm 1998.
Cẩm Hà – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Bãi biển Nam Ô Nàng công chúa hay cô bé lọ lem ? – Phần 3

Một thành phố trực thuộc trung ương lẽ nào lại tồn tại một bãi biển như vậy ngay cửa ngõ phía bắc, dưới chân Thiên hạ đến nhất hùng quan, trước thềm thế kỷ 21?
Ông Nguyễn Văn Thước, trưởng phòng Quản lý đô thị quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng cho biết: “Vấn đề cảnh quan sinh thái ở bãi biển Nam Ô sẽ cơ bản được giải quyết khi mở được một con đường dài 800 m , rộng 8 mét từ chân cầu Nam Ô đến chân núi Nam Ô. Con đường huyết mạch này không chỉ đơn thuần giúp cho sinh hoạt đi lại của nhân dân trong vùng được thuận tiện mà còn là cơ hội đặt dấu chấm hết cho tình trạng ô nhiễm môi trường tại đây tạo điều kiện phát triển các tiềm năng về du lịch, tạo công ăn việc làm cho người dân. Kế hoạch mở đường Nhà nước và nhân dân cùng làm với 70% vốn nhà nước cộng với với 30 % vốn nhân dân đóng góp phải được UBND thành phố phê duyệt, các ban ngành thành phố phối hợp kiểm tra mới tiến hành lập dự án”.
Theo ông Ngô Trường Thọ, trưởng phòng Quản lý du lịch thuộc Sở du lịch thành phố Đà Nẵng thì việc khai thác một tài nguyên bỏ quên như bãi tắm Nam Ô đòi hỏi phải có sự đồng bộ của các ngành các cấp… Chương trình ‘Năm du lịch Đà Nẵng – 2000” (Visit Danang 2000) đã mở ra hướng phát triển các khu nghỉ dưỡng ven biển (với trọng tâm là khu Mỹ Khê, Non Nước và Furama), cũng đã mở ra một cơ hội cho Nam Ô. Nhưng trước hết là tự thân người dân Nam Ô phải biết trân trọng gìn giữ cảnh quan sinh thái của chính nơi mình đang sinh sống, bởi đó là nguồn nội lực mạnh mẽ giúp bãi biển Nam Ô tìm lại những gì đã mất.
Ai đó đã ví Nam Ô như nàng – công – chúa – ngủ – bên – bờ – biển. Nhưng cũng có người cho rằng gọi là cô bé Lọ Lem thì có lẽ đúng hơn. Suy cho cùng thì đằng nào cũng vậy, dù công chúa hay Lọ Lem, câu chuyện luôn kết thúc có hậu khi một ngày đẹp trời nọ có chàng hoàng tử đến, vực nàng ra khỏi sự lãng quên và đặt nàng lên vị trí đích thực mà nàng xứng đáng được hưởng. Đà Nẵng đang chuyển mình thành một thành phố lớn, chúng ta có quyền tin tưởng câu chuyện cổ tích thời nay về Nam Ô sẽ sớm kết thúc có hậu để bãi biển thơ mộng này còn kịp đón bình minh của Thế kỷ 21.

Văn Thành Lê-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Bãi biển Nam Ô Nàng công chúa hay cô bé lọ lem ? – Phần 2

Đến khi thành phố phát triển, nhất là sau khi có lượng lính Mỹ ồ ạt đổ vào Đà Nẵng, nhờ và địa thế trời cho ấy mà Nam Ô đã trở thành một trong các bãi biển có lượng khách đến tắm đông nhất.
Nhiều người vẫn còn nhớ cảnh đầu đường cuối bãi hồi ấy ken dầy các dãy nhà sàn và nhà dù phục vụ khách suốt ngày đêm, nhất là vào mùa hè. Sau năm 1975, mặc dù lượng khách không còn đông như trước, nhưng Nam Ô vẫn duy trì được bãi tắm xanh – sạch – đẹptrong một thời gian khá lâu.
Trong “bộ tam” xanh – sạch – đẹp thì xanh và đẹp là của trời cho, còn sạch chỉ do con người mà có. Sạch là tiêu chuẩn số 1 khi đánh giá một cảnh quan môi trường nào đó. Đáng tiếc là bãi tắm Nam Ô đã đánh mất niềm tin của du khách tù khi cư dân nơi này đông đúc hẳn lên và chuyện vệ sinh môi trường không sao kiểm soát nổi. Theo chân ông Bùi Văn Đông – một cán bộ phường Hòa Hiệp, chúng tôi làm một chuyến đi thực tế dọc theo bờ biển Nam Ô. Khu vực Nam Ô 2 /(kéo dìa từ phía nam núi Nam Ô đến lăng Ông) là bến bãi dành cho dân làm nghề biển. Nơi đây ghe thuyền đông đúc, người vào ra tấp nập chuẩn bị vụ mùa. Đây đó lẫn trong lớp cát óng ánh dưới nắng mai là những thứ do chính người dân nơi đây thải ra mà làn gió trong lành cũng chỉ đủ làm dịu đi cái mùi xú uế đến khó chịu. Khu vực Nam Ô 3 (từ phía bắc núi đến chân cầu Nam Ô) là bãi tắm chính thức, lại đầy rác rến. Thói quen từ bao đời nay của người dân ven biển là cứ gởi xuống biển tất cả những gì họ thải ra trong cuộc sống hằng ngày. Người có ý thức thì còn đào hố chôn, kẻ kém ý thức bạ đâu vứt đó. Dần dà, bãi biển thơ mộng đã biến thành một bãi rác.
Khách ngày càng xa lánh Nam Ô là vì thế. Trước họ đến khá đông, thấy cảnh sơn thủy hữu tình như vậy ai lại chẳng muốn ghét thăm. Suốt ngày suốt tuần bị cuốn vào công việc, mọi người tranh thủ giờ rãnh rỗi đến đây tìm một góc thư giãn giữa trời mây non nước. Các nam thanh nữ tú đưa nhau đến với ước mong khung cảnh thơ mộng nơi này sẽ nói hộ ít nhiều nỗi lòng của họ với nhau. Thế nhưng mới rảo bước qua bãi cát, mới chạm chân đến bên gành đá, thì cái cảnh rác rến bập bềnh dưới nước cùng với mùi hôi thối do phóng uế bừa bãi trên bờ đã giục họ chán nản bỏ đi. Suối Mơ, đồi thông bên kia cầu Nam Ô, đèo Hải Vân… dù không có được vẻ quyến rũ sơn thủy hữu tình như bãi tắm Nam Ô, nhưng các nơi ấy đã thu hút họ vì một môi trường còn khá sạch.

Văn Thành Lê-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Bãi biển Nam Ô Nàng công chúa hay cô bé lọ lem ? – Phần 1

Nằm sát bên quốc lộ 1A, dưới chân Hải Vân đệ nhất hùng quan, có độ dốc vừa phải, phong cảnh sơn thủy hữu tình… bãi biển Nam Ô quả là một món quà mà thiên nhiên đã hào phóng ban tặng cho thành phố Đà Nẵng. Có người đã ví Nam Ô như một nàng công chúa ngủ bên bờ biển, bởi nơi đây còn cất giấu một ko báu đầy hứa hẹn cho việc khai thác các tiềm năng du lịch. Liệu công chúa có kịp thức giấc để đón bình minh của Thế kỷ 21 ?
Nhờ có ưu thế trên chợ dưới sông, lại thêm là chỗ đóng nhà Trạm (thông tin liên lạc) của các triều vua nhà Nguyễn ngày trước nên Nam Ô đã nhanh chóng phát triển thành một thị tứ đông đúc. Nam Ô ngày nay thuộc phường Hòa Hiệp, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Phần lớn người dân nơi này sống về nghề biển, nghề đã đưa tên tuổi Nam Ô ngày nay đi đến khắp thế giới. Nhắc đến Nam Ô, người ta hình dung ngay đến món nước mắm lừng danh trên thị trường ẩm thực không thua gì nước mắm Nha Trang, Phan Thiết hay Phú Quốc. Một thời Nam Ô còn nổi tiếng về nghề làm pháo, nhưng nổi tiếng sớm hơn vẫn là bãi biển sạch đẹp đã thu hút khách từ các nơi về khá đông.
Cách trung tâm thành phố khoảng 15 km về hướng Tây Bắc, Nam Ô có tên trong danh sách những bãi biển đẹp nhất miền Trung. Khách vào Nam ra Bắc thường dừng chân bên cầu Nam Ô để thỏa thích nhìn ngắm bức tranh sơn thủy thơ mộng nơi này. Bóng dáng những ghe thuyền bồng bềnh trên sông nước cùng với nét đậm nhạt của những lưới rớt uốn cong về phía mặt trời lặn đã tạo nên một phong cảnh rất riêng cho làng Thủy Tú. Về phía biển, giữa một dãi cát bằng phẳng nổi lên một ngọn núi không cao nhưng cây cối quanh năm tươi tốt, sách cũ chép là Xuân Sơn – núi mùa Xuân. Núi còn được gọi là mũi Nam Ô, bởi núi có một thế đổ thoai thoải về phía biển mà vô số khối đá to nhỏ dưới chân như những chú rùa khổng lồ quanh năm kiên nhẫn chống chọi với các cơn sóng bạc đầu. Trên núi có nhiều đường ngang lối tắt rất đẹp. Nơi đây còn có dấu vết của một rừng cây nguyên sinh, một thời có người đã dựng nhà sàn nghỉ mát ngay trên núi. Đứng ở đây có thể nhìn bao quát về thành phố Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà hay đường đèo Hải Vân ngoằn nghoèo chữ Z.
Bãi tắm Nam Ô được hình thành từ những năm 60, ban đầu là do nhu cầu tắm biển của cư dân trong vùng. Ngày ấy dân quanh bãi chưa đông nên biển sạch và đẹp.
Văn Thành Lê-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Một nguy cơ biến các điểm du lịch thành địa ngục

Theo các nghiên cứu về hoàn cảnh tự nhiên toàn cầu của tổ chức nghiên cứu khí tượng đại học Chili miền đông nước Anh thì hiện tượng trái đất nóng lên sẽ hình thành đợt sóng nhiệt gây hạn hán và bệnh tật, đồng thời cũng tàn phá nhiều địa điểm du lịch nổi tiếng như HyLạp, Ô-xtơ-rây-lia, Tây Ban Nha, Manđíp cùng nhiều nơi khác khiến cho nhiều quốc gia du lịch bị thua lỗ.
Theo những phân tích và dự đoán của tổ nghiên cứu khí tượng đối với các vùng du lịch như Manđíp, vùng núi Alpơ châu u, miền đông Địa Trung Hải, miền nam Tây Ban Nha, Scốtlen, nhiều vùng hồ châu u, miền nam và đông châu Phi,Ô-xtơ-rây-lia, bang Florida nước Mỹ và Braxin cùng các vùng du lịch nổi tiếng khác thì thời tiết ở đây sẽ thay đổi khiến cho các thiên đường du lịch này trở thành địa ngục.
Báo cáo cho hay trái đất nóng lên khiến cho lượng tuyết ở vùng núi Alpơ, Ô-xtơ-rây-lia và Scốtlen cùng các nơi khác ít đi và làm mùa tuyết ngắn lại đã ảnh hưởng mạnh vào các khu trượt tuyết. Mặt khác các vùng du lịch truyền thống như Hy Lạp của Địa Trung Hải, Thổ Nhĩ Kỳ và miền đông nam Tây Ban Nha do khí hậu quá nóng nên có nhiều bệnh tật và phải đóng thêm thuế nước nên khách cũng ngại đến. Báo cáo còn chỉ rõ bệnh tật, bão và lụt lội, cháy rừng đều đang đe doạ Tây Ban Nha.
Mặt khác nạn hạn hán và khí hậu thay đổi khiến cho động vật hoang dã bỏ chạy khỏi khu rừng cấm, khiến cho lượng khách tới du lịch tham quan rừng cấm Đông Nam Châu Phi giảm. Tiếp đó trời nóng và thiếu nước mưa cũng làm lượng khách tới du lịch vùng rừng Braxin ít đi. Căn cứ vào cục khí tượng Mỹ về sự thay đổi của khí hậu toàn cầu và mức nước, tổ nghiên cứu dự đoán và chỉ rõ:việc trái đất nóng lên sẽ làm mực nước biển tăng cao, các vùng du lịch gần bờ biển như đảo quốc Man-đíp Ấn Độ Dương và bang Florida gần Đại Tây Dương cũng bị uy hiếp.
Báo cáo cho hay: Năm 1998 là năm nóng nhất của thiên niên kỷ này và nói khôi hài rằng do con người thích đi du lịch bằng máy bay cũng là một nguyên nhân làm trái đất nóng lên. Bởi lẽ khí xả máy bay cũng làm tăng khả năng hiệu ứng nhà kính khiến trái đất nóng lên. Tới năm 2020 số lượng khách du lịch sẽ tăng tới 1,6 tỷ người thì ô nhiễm môi trường càng xấu đi.
Quỹ tự nhiên toàn cầu đã khuyên toàn cầu giảm sử dụng nguyên liệu dầu mỏ để dùng các nguồn năng lượng tái tuần hoàn khác, qua đó giảm tốc độ nóng lên của trái đất. Họ cũng đề nghị các quốc gia cần giảm lãng phí các nguồn năng lượng tại các vật kiến trúc, đặc biệt là các kiến trúc vùng du lịch.
Diên Niên – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999