Điệu vanxo ở Nam Phi

Những đêm cuối tuần, một nhóm thanh niên lại đến trung tâm cộng đồng ở Ennerdale, thành phố miền Nam Johannesburg. Các cô bé mặc những bộ đồ luyện tập thể thao hợp mốt và tô môi tươi thắm. Các cậu bé thì trưng diện những bộ đồng phục của thập niên 90, quần dài, giầy thể thao đắt tiền, mũ lưỡi trai đội lệch hoặc đội ngược. Nhạc nổi lên và chúng bắt đầu nhảy một điệu vanxơ. Khiêu vũ vốn từng chỉ dành cho người da trắng. Năm năm trước ở Nam Phi, chỉ thấy những người da trắng khiêu vũ, nhưng nay thì hầu hết là người da đen hoặc người da màu khác. Giống như xã hội Nam Phi, khiêu vũ cũng không thay đổi đột ngột. Dưới chế độ Apacthai, mỗi một chủng tộc người da màu, người da đen, người da trắng có hội riêng của mình. Những người da trắng giàu có tham gia những trường học nhảy và tổ chức khiêu vũ hàng tuần. Những người màu da khác thì nhảy theo những băng cát xét thu trộm trong những ngôi nhà lớn ở thị trấn. Chế độ Apacthai sụp đổ, một số người da trắng vẫn muốn duy trì những hội riêng rẽ. Nhưng để tham gia những cuộc thi quốc tế, cần phải thành lập một hội hợp nhất tất cả. Đó là khi các điệu nhảy hơn và không phải giữa những người da trắng với nhau. Ngày nay, Nam Phi có gần 500 trường dạy khiêu vũ. Hầu hết các trường này ở thành phố. Hiệp hội khiêu vũ Nam Phi Fedansa ước tính quần chúng nhiều hơn và không phải giữa những người da trắng với nhau. Ngày nay, Nam Phi có gần 500 trường dạy khiêu vũ. Hầu hết các trường này ở thành phố. Hiệp hội khiêu vũ Nam Phi Fedansa ước tính có khoảng 50 nghìn hội viên, trong đó có 80% là người da đen, người Ấn Độ hoặc người đa sắc tộc, tranh tài trên khắp đất nước trong những ngày cuối tuần. Theo những người tổ chức, khiêu vũ giờ đây đã là một trong ba môn thể thao được ưa thích nhất Nam Phi, cùng với bóng đá và đấm bốc. Cũng như những môn thể thao khác, khiêu vũ mở ra cho thanh niên phố con đường thoát khỏi cuộc sống vất vả. Rafig Hoosain, 21 tuổi và người đồng nghiệp 18 tuổi Joraine Roach trưởng thành ở Ennerdale và bây giờ là những người khiêu vũ nghiệp dư thuộc về thế hệ thứ hai ở Nam Phi. Họ tham gia các cuộc thi tài khắp thế giới và mỗi người kiếm được khoảng 500 đô la Mỹ một tháng, mức thu nhập trung bình ở các thành phố của Nam Phi. Theo các giáo viên chuyên nghiệp họ có thể kiếm được 2.500 đô la Mỹ một tháng. “Đó là số tiền mà tôi không thể tưởng tượng được”, ông Brian, bố của Fafig nói: Ông là người hướng dẫn viên đầu tiên của một trong ba trường của thành phố. Kể cả với những người không có mặt trong các cuộc thi quốc tế thì khiêu vũ cũng tạm thời giúp họ quên đi cuộc sống nhọc nhằn và đầy rẫy tội ác. Nó tạo cơ hội cho người da đen, da màu có thể bước chân vào một thế giới khác trước, nơi mà đàn ông thì mặc áo đuôi tôm và phụ nữ thì khoác lên mình những bộ báy trang nhã. Trong các cuộc thi tài, bạn sẽ trở thành một quý ông hay một quý bà, và bạn quên hết tất cả, một thanh niên 19 tuổi, sống ở Ennerdale nói. Tất nhiên, là vẫn còn tồn tại những sự bất công. Người da trắng có thể có những huấn luyện viên giỏi, có những bộ trang phục làm từ da đà điểu, có đồ trang sức đắt tiền và dĩ nhiên là có đủ tiền chi phí cho những chuyến đi đua tài khắp đất nước. Trong khi đó ở các thành phố, nhiều người vẫn phải vật lộn vất vả và với cuộc sống để có thể tiết kiệm, đủ tiền mua một đôi giầy khiêu vũ, và giáo viên thường phải tổ chức những buổi quyên góp nhằm mục đích trả tiền lệ phí tham gia các cuộc thi địa phương – 8 đô la mỗi người. Đã phải mất một thời gian dài trước khi người da đen và người da trắng thực sự hòa hợp với nhau. Còn bây giờ, khi nhạc nổi lên, từng đôi một không phân biệt màu da cùng lên biểu diễn chung trên một sàn nhảy.
Đức Hiếu – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (16(69))1999.

Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm tiếp Tổng cục trưởng tổng cục du lịch Pháp

Chiều ngày 19 tháng4 năm 1999, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã tiếp thân mật Tổng cục trưởng Tổng cục du lịch Pháp P. Boi sa đam đang ở thăm và làm việc tại nước ta theo lời mời của Tổng cục Du lịch. Phó Thủ tướng hoan nghênh chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam của Tổng cục du lịch Pháp mong rằng trong thời gian tới Việt Nam và Pháp tiếp tục tăng cường sự hỗ trợ, hợp tác và trao đổi những kinh nghiệm về phát triển du lịch, nhất là trong lĩnh vực tuyên truyền, đào tạo cán bộ cho ngành du lịch. Tổng cục trưởng Tổng cục du lịch Pháp đã thông báo với Phó thủ tướng kết quả làm việc với Tổng cục Du lịch Việt Nam, trong đó hai bên đã thảo luận về một số vấn đề nhằm đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác chung về du lịch giữa hai nước. Ông Tổng cục trưởng cũng nhấn mạnh sự hợp tác chặt chẽ trong lĩnh vực đào tạo, cụ thể là việc thành lập một trung tâm đào tạo du lịch, vai trò của việc tăng cường tuyên truyền về truyền thống lịch sử, văn hóa, đất nước, con người Việt Nam, phát triển một cách rộng rãi việc nói việc Pháp… sẽ thúc đẩy mạnh mẽ mối quan hệ hợp tác chung, đồng thời đóng góp vào sự phát triển du lịch của mỗi nước.
Cuộc thi tìm hiểu “Biên giới hải đảo trong trái tim tôi”
Tuần du lịch được phát động từ ngày 26 tháng 3 năm 1999 và kết thúc vào ngày 30 tháng 9 năm 1999, cuộc thi tìm hiểu “Biên giới – hải đảo trong trái tim tôi” do Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp với ban Biên giới chính phủ, Quân chủng Hải quân, Bộ đội Biên phòng, Tổng cục Hải quan, Tổng cục Du lịch tổ chức. Với 5 câu hỏi hướng bạn đọc vào những vấn đề có liên quan đến biên giới, hải đảo, biển và bờ biển, những khu du lịch biển, những sự kiện gắn với truyền thống tuổi trẻ, quân đội, hải quan, biên phòng…. Cuộc thi thực sự là một đợt sinh hoạt chính trị, văn hóa bổ ích. Lễ trao giải cuộc thi sẽ được tiến hành vào dịp kỷ niệm 55 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, tháng 12 năm 1999 với nhiều giải thưởng có giá trị.
PV – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (16(69))1999.

Một lữ khách của tình yêu

Nhà văn – nhà báo Ba Lan chị Mônica Vacnensca đến với chúng tôi vào một buổi sáng mùa hè đầy ánh mặt trời. Chị đã bảy mươi tám tuổi. Khuôn mặt linh lợi. Đôi chân bước khá nhanh và toàn thể dáng vóc cho dù hơi thấp vẫn toát ra vẻ sinh động trẻ trung. Chị đến Việt Nam nhiều lần. Thú vui của chị là được khám phá nhưng mới mẻ ở nhiều miền đất khác nhau, ở những vùng chân trời xa lạ để đem đến cho bạn đọc gần xa những gì thu nhận được, để con người dù có trùng lại cách trở đều có thể thông cảm và gần gũi nhau hơn. Đi nhiều và viết say sưa. Nhiều sáng tác, và những ghi chép phóng sự của chị, dù về vùng đất nóng Trung Đông hay thời kỳ có những con rồng đang tung mình ở Châu Á, về Việt Nam chiến đấu hay xây dựng cuộc sống trong hòa bình đều đã đem đến cho bạn đọc Ba Lan và nhiều nước khác cái nhìn thiện cảm đối với những gì chị đề cập tới. Chị có mặt ở Việt Nam lần đầu tiên khi đất nước ta còn đang chia cắt. Chị đến Hà Nội, những lần trước, chị thấy đất nước ta nghèo khổ, nhưng anh hùng lẫm liệt vô song và đặc biệt tình người nồng thắm, khiến trái tim đã thúc bách chị viết ngay cuốn sách sau này nhà thơ Xuân Diệu dịch sang tiếng việt. Sống giữa tình yêu. Nếu như nhà văn Thụy Điển Sara Litman mơ sáng dậy thấy mình là người Việt Nam hay Blaga Dimitrova của Bungari viết với cả tâm huyết của mình tiểu thuyết du kí Ngày phán xử cuối cùng thì Monica đã viết nhiều, viết với cả tình yêu và trí lực về miền đất Việt Nam của chúng ta. Tới hôm nay đôi chân hành trình cũng như ngòi bút của chị vẫn không hề mỏi. Hôm nay, Hà Nội vẫn như Hà Nội xưa nhưng khác lắm rồi, như người con gái mới dậy thì, hồn nhiên, tươi tắn, phổng phao, đang cố khoe với trời đất nhan sắc đầy hãnh diện của mình. Mong cho sắc đẹp ấy ngày càng thắm đượm. Phòng khách nhỏ. Mấy anh em văn chương báo chí Việt Nam trò chuyện với chị. Nỗi say nghề gắn bó chúng tôi với nhau. Mônica Vacnensca bỏ ra nhiều năm tháng tìm hiểu và viết xong cuốn sách về tội ác diệt chủng của bọn Pôn Pốt ở Cămpuchi. Bộ sách ba tập. Đã hoàn thành bản thảo. Đã hoàn thành bản thảo. giữa phút giây nồng nhiệt chị đưa cho chúng tôi xem quyển Vương quốc bí mật xuất bản bằng tiếng Ba Lan ở Vacsava năm 1998. Đây là công nghiên cứu công phu lịch sử và văn hóa. Sách không chỉ là lịch sử thưởng ngoạn của khách lữ hành mà đầy ắp sự kiện, chứng tích, đem đến cho người đọc lí thú của sự khám phá và bao suy nghĩ ngấm đậm sâu xa. Chẳng đọc được chữ bạn nhưng mở ra thấy ảnh minh họa đều là tháp Chàm, tượng Chàm, thánh địa Mỹ Sơn và Kinh Đô Trà Kiệu thì hiểu ngay chị đã dặm đường cất bước, như thế nào, để nghe ngóng, để thu nhận, để hiểu biết và chuyển tải. Nền văn hóa rực rỡ của vương quốc Chăm pa vẫn tỏa sáng tới hôm nay và mãi mãi mai sau, không những chỉ ở Việt Nam và cả trên thế giới. Ba trăm trang sách, giấy đẹp, khổ rộng quả là người sản sinh ra nó phải đi nhiều, đọc lắm, phải ghi chép miệt mài, phải tư duy không mệt mỏi, và sau hết là phải có học vấn đầy đủ cũng như nguồn năng lực nội tại dồi dào. Chị tâm sự: Việt Nam luôn luôn hấp dẫn tâm hồn tôi. Xưa kia là không khí cả nước cho chiến thắng. Trên thế giới không thiếu gì những cuộc chiến tranh nhưng không đâu như ở Việt Nam. Lâu dài. Tàn khốc. Quyết liệt. Ấy vậy mà hôm nay đến Việt Nam, dù viết thương vẫn hẳn sâu đây đó, nhưng mà màu sắc của cuộc sống mới, của hòa bình hạnh phúc, chẳng những chỉ trên đường phố, khắp xóm thôn, mà còn len lỏi cả buổi tối trên màn ảnh nhỏ trong mỗi gia đình. Nghe chúng tôi giới thiệu về hoạt động của Hội nhà Văn Việt Nam, chị vội vã thêm vào: Ở Ba Lan chúng tôi vẫn còn Hội nhà văn và trụ sở từ ngày xưa của nó. Nhưng hoạt động thì vô cũng mệt mỏi nếu như không nói là họ đã chẳng làm gì. Chân lý đang lộn nhào mà lại. Biết làm sao bây giờ. Ba Lan hôm nay đâu phải Ba Lan ngày hôm qua, những năm tháng sau khi cùng Liên Xô và đồng minh chiến thắng phát xít Đức. Lòng người cũng bị chia năm xẻ bảy. Mônica Vacnensca là bạn của người đọc, chẳng những chỉ trên trang giấy mà đời sống thường nhật. Nhiều lần chị nhận được thư từ hay các cú điện thoại yêu cầu giải trình khúc mắc hoặc tâm sự riêng tư, có khi chỉ để mong chút ít, cảm thông của chị. Chị cho rằng tuổi càng nhiều quỹ thời gian càng ít. Lúc nào cũng gấp gáp. Đôi chân khỏe mạnh vẫn say sưa đến những chân trời, Rồi chị cười! Nụ cười trẻ trung, hồn nhiên, cứ sáng lên như là mãi mãi với tháng ngày.
Tô Đức Chiêu – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (15(67))1999

Dai dẳng chuyện “quán cá” trường phổ thông trung học Chu Văn An

Chẳng riêng gì với trường Phổ thông trung học Chu Văn An, các cơ quan hành pháp địa phương và nhân dân trên địa bàn phường Thụy Khuê – quận Tây Hồ, việc dỡ rồi lại dựng, dựng rồi lại dỡ của một số hộ kinh doanh thuộc khu quán cá Hồ Tây đã trở thành quen trên các phương tiện thông tin đại chúng, và với rất rất nhiều người Hà Nội. Ngày 30 tháng 3 năm 1999 vừa qua, một lần nữa ủy ban nhân dân phường Thụy Khê và các ngành chức năng lại tiến hành dỡ bỏ dãy quán lấn chiếm trái phép của 12 hộ kinh doanh ở khu vực này. Nhưng …xin lật lại quá khứ một cách vắn tắt số hộ kinh doanh trên nằm trong diện tích của trường Phổ thông trung học Chu Văn An, nằm ở phía sau trường. Sau khi có quyết định chính thức về việc thành lập trường Phổ thông Trung học chất lượng Chu Văn An thì số hộ trên cũng chính thức nằm trong diện bị giải tỏa để phục vụ cho công tác tiến hành xây dựng. giải phóng mặt bằng muôn thuở vẫn là vấn đề phức tạp, và mất nhiều thời gian. Trong thời gian chờ giải tỏa, một số hộ ở đây tiếp tục lấn chiếm diện tích một cách bất hợp pháp để kinh doanh buôn bán. Hành vi coi thường luật pháp của các hộ kinh doanh trên không cần nói thêm cũng đã rõ. Nhưng khoan xét cho cùng nó cũng là hậu quả của nguyên nhân căn bản nhất, đó là việc thiếu trách nhiệm trong thực thi pháp luật của ngành chức năng và cấp quản lý nhà nước ở địa phương. Xin bắt đầu từ trường Phổ thông Trung học Chu Văn An, ông chủ của mảnh đất này. Thật ra trường không có chức năng gì bắt tháo dỡ cả, tất cả trách nhiệm của trường chỉ vẻn vẹn nằm trong 2 việc là kính chuyển kiến nghị của dân lên cơ quan thẩm quyền và báo cáo việc vi phạm để ngành chức năng có biện pháp giải quyết. Có một điều khong thể không nhắc tới là trường Phổ thông trung học Chu Văn An ở vào tình thế khá tế nhị khi hành xử với các hộ kinh doanh lấn chiếm trái phép. Nguyên nhân cũng rất giản đơn, bởi vì một số hộ kia đều có người trong gia đình từng là giáo viên của trường. Chẳng hiểu có phải vì sự khó xử này không hay vì nguyên nhân duy nhất là trước sau thì chính quyền cũng giải tỏa lấn chiếm mà phản ứng của trường cũng chỉ dừng lại ở mức độ gay gắt khi cần thiết. Bà Tạ Thị Huấn – Phó hiệu trưởng trường Phổ thông trung học Chu Văn An đã khẳng định “nhà trường không hề có sự khuất tất trong việc để các quán cá lấn chiếm trái phép”. Nhưng không chỉ ở chỗ đó, điều cần thiết hơn là sự tích cực phối hợp của trường với các cơ quan thực thi pháp luật vì lợi ích không của ai khác bởi mảnh đất đó chính trường Chu Văn An được giao quyền sử dụng. Còn lại, những đơn vị có đầy đủ quyền bính trong tay như Ủy ban nhân dân phường Thụy Khuê, Công an phường Thụy Khuê, Công an quận Tây Hồ, Ban quản lý trật tự xây dựng đô thị quận Tây Hồ liệu có bao giờ họ đặt câu hỏi là từ nay cho đến khi hoàn tất giải phóng mặt bằng dự án, sẽ còn bao lần cưỡng chế dỡ bỏ nữa mà chính quyền địa phương phải tiêu tốn hàng chục triệu đồng kinh phí Nhà nước. Xin nhắc thêm một điều, mặc dù đã có ý kiến chỉ đạo c thành ủy và Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội về việc giải quyết dứt điểm tình trạng cơi nới trong năm 1998 nhưng cấp thẩm quyền địa phương không hiểu sao lại bó tay? Cứ hết lần này lại lần khác dỡ bỏ những lều quán mà chính tay mình lần trước đã kiên quyết phá bỏ rồi. Dự luận hơn một lần đặt câu hỏi: Có sự châm chước của chính quyền địa phương dành cho các quán cá? Không sớm thì muộn khu vực này cũng phải di dời, vậy có cần sốt sắng lắm hay không trong việc chống xâm chiếm trái phép? Hay chỉ khi nào không thể im lặng được tìm mới tiến hành cưỡng chế tháo dỡ? Việc dỡ bỏ lều quán ở khu vực này có một điều đặc biệt là các hộ vi phạm rất tự nguyện. Cũng chẳng phải họ có ý thức trách nhiệm gì, đơn giản là không làm mất lòng cơ quan thi hành và như vậy thì còn giữ nguyên được vật liệu để đựng quán lên tiếp. Bà chủ quán cá B.L vui vẻ nói chúng tôi: “Mái lá bay đi, mái tôn bay lại. Lần này là lần thứ 8 bọn chị tự nguyên tháo dỡ rồi đấy. Phải chăng điều này bắt nguồn từ nguyên nhân các cơ quan hành pháp thực thi pháp luật chưa nghiêm? Chúng tôi không muốn đưa ra các văn bản giữa các cơ quan công quyền có nội dung liên quan đến việc này. Bởi lẽ, nó đã quá nhiều nhưng chỉ sợ vẫn chưa dừng lại ở đấy. Chỉ e theo thời gian, nó ngày một dày thêm. Quay trở lại với chủ đất là trường Chu Văn An, chúng tôi có hỏi bà phó hiệu trưởng Tạ Thị Huấn rằng: “Phải chăng pháp luật đã bất lực trong việc giải tỏa quán cá khu vực sau trường?”. Bà cười ý nhị và đáp: “Tôi không nghĩ là như vậy”. Chẳng biết những cấp cơ quan thẩm quyền có đầy đủ quyền hành trong tay có trả lời như vậy không nếu đứng trước câu hỏi này?.
Minh Sơn – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (15(67))1999.

Bước tiến mới trong quan hệ hợp tác du lịch Việt – Trung

Đoàn đại biểu cục du lịch quốc gia Trung Quốc do cục trưởng Hà Quang Vĩ dẫn đầu sang thăm Việt Nam.
Hội đàm giữa đoàn đại biểu du lịch hai nước Việt – Trung
Lễ ký kết hoạch hợp tác du lịch năm 1999 đến 2000 giữa ngành du lịch hai nước. Từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 4 năm 1999, Đoàn đại biểu Cục du lịch quốc gia Trung Quốc do Cục trưởng Hà Quang Vĩ dẫn đầu sang thăm và làm việc tại nước ta. Chiều ngày 5 tháng 4 tại Hà Nội, Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng, Phó tổng cục trưởng Phạm Từ cùng đại diện một số vụ chức năng của Tổng cục du lịch Việt Nam đã nồng nhiệt đón tiếp Cục trưởng Hà Quang Vĩ và các vị cùng đi. Tại cuộc Hội đàm giữa hai Đoàn đại biểu du lịch hai nước sáng ngày 6 tháng 4, Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng đã đánh giá cao chuyến thăm Việt Nam của đoàn, coi đây là dịp tốt nhất để lãnh đạo ngành Du lịch hai nước trao đổi thông tin, kinh nghiệm quản lý và phát triển du lịch, đồng thời bàn biện pháp đẩy mạnh hợp tác du lịch hơn nữa, đáp ứng nguyện vọng của hai bên. Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng giới thiệu những tiềm năng du lịch, điều kiện cơ sở vật chất, những khó khăn, thuận lợi của du lịch Việt Nam, đồng thời khẳng định Chính phủ Việt Nam rất coi trọng và quan tâm tới phát triển du lịch. Trong bài phát biểu của mình, Cục trưởng Hà Quang Vĩ đã giới thiệu khái quát tình hình phát triển du lịch của Trung Quốc trong hơn 20 năm đổi mới, cải cách và khẳng định ngành Du lịch được coi là ngành kinh tế quốc dân. Cục trưởng Hà Quang Vĩ đã nêu một số vấn đề còn tồn tại trong quan hệ hợp tác du lịch giữa hai nước, mong muốn hai bên cùng có những biện pháp thiết thực, cũng như những kiến nghị cụ thể giải quyết, tháo gỡ, nhằm nâng cao hiệu quả khai thác du lịch của mỗi nước. Ngay sau cuộc hội đàm, Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng và Cục trưởng Hà Quang Vĩ đã ký thỏa thuận kế hoạch hợp tác du lịch năm 1999 đến 2000 giữa Tổng cục du lịch quốc gia Trung Quốc. Kế hoạch hợp tác năm 1999 đến năm 2000 được xây dựng theo tinh thần Hiệp định hợp tác du lịch giữa Chính phủ hai nước đã ký ngày 8 tháng 4 năm 1994. Nội dung gồm hai bên sẽ trao đổi mỗi năm một đoàn du lịch nhằm nghiên cứu về xúc tiến, quảng bá và phát triển du lịch, trao đổi thường xuyên thông tin cập nhật về tình hình phát triển du lịch và số liệu thống kê du lịch, tăng cường hợp tác tuyên truyền quảng bá du lịch nhằm thu hút khách nước thứ ba đến thăm hai nước và khuyến khích các doanh nghiệp du lịch hai nước tham gia hội chợ, hội thảo du lịch do hai bên tổ chức, phía Trung Quốc sẽ thông báo cho phía Việt Nam các cơ hội đào tạo về du lịch và tiếng Trung Quốc, đồng thời sẽ giúp phía Việt Nam liên hệ với các cơ sở đào tạo liên quan. Chứng kiến lễ ký văn bản quan trọng này có đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội Lý Gia Trung và các đại biểu ngành Du lịch hai nước. Trong thời gian ở thăm Việt Nam, Cục trưởng Hà Quang Vĩ và các vị cùng đi tới thăm một số di tích lịch sử, danh thắng tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, và một số địa phương.
Bùi Hoàng – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (15(67))1999.

Sự kết hợp văn hóa trong kinh doanh du lịch

Nói đến du lịch ở một giác độ nào đó người ta nghĩ đến việc đi lại. Dân gian đã có câu “đi một ngày đàng học một sàng khôn”. Cái khôn ở đây là một quá trình nhận thức về truyền thống lịch sử, văn hóa, về cảnh quan thiên nhiên, về đất nước và con người và về các vấn đề kinh tế – chính trị – xã hội. Có thể nói những vấn đề trên là cốt lõi của mục đích du lịch. Hoạt động du lịch lấy đó làm cốt để xây dựng các chương trình du lịch độc đáo, đặc sắc, hấp dẫn thu hút khách trong nước và nước ngoài tạo nên những đám đông mà ta nghĩ như những ngày hội để tuyên truyền, giáo dục, tạo nên những ấn tượng khó quên cho khách. Mặt khác thông qua những đám đông này để tổ chức các dịch vụ và bán hàng hóa phục vụ khách đây là vấn đề kinh tế. Đối với các nước phát triển du lịch người ta đã khai thác triệt để các yếu tố trên để vừa giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tuyên truyền về đất nước và con người, những thành tựu trong kinh tế – chính trị – xã hội, vừa tổ chức các hoạt động, đồng thời cũng tranh thủ mọi cơ hội để tạo nên sức hút mọi người đến tham quan tìm hiểu. Đất nước chúng ta có đầy đủ các yếu tố trên, nhưng sự nhận thức, tính phối hợp, tính tập trung chứa cao nên chưa tạo ra sự hấp dẫn có sức thu hút cao nhằm phát triển du lịch. Trong chúng ai cũng thấy rằng đất nước ta giàu tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn, nhưng phần lớn các tài nguyên trên đều ở dạng nguyên sơ chưa có đầu tư để tạo nên sức hấp dẫn không chỉ nhân dân trong nước mà cả khách nước ngoài. Nhìn ra các nước trong khu vực để tạo nên sức hấp dẫn, người ta đã quy hoạch, đầu tư không chỉ để bảo tồn, gìn giữ mà để khai thác dưới giác độ kinh doanh dịch vụ. Đó là cung điện lớn, cung điện cũ, chùa Vàng… ở Băng Cốc – Thái Lan, Viện bảo tàng dân tộc Singapore, Cố cung, Dĩ hòa viên, vạn lý trường thành, rừng đá Thạnh Lâm… Trung Quốc, thành phố cổ Kyoto – Nhật Bản. Ngay cả tài nguyên thiên nhiên cũng được tạo dựng như vườn chim, vườn thú, công viên biển, vườn cá sấu….. của các nước rất đa dạng và phong phú. Đây là những điểm tham quan lý thú có sức hấp dẫn cao đối với mọi người. Diện tích của mỗi điểm này có diện tích ít nhất 2 héc ta, được quy hoạch chi tiết và xây dựng cơ sở hạ tầng tốt đảm bảo việc giữ gìn môi trường cảnh quan xanh – sạch – đẹp, các cơ sở dịch vụ được sắp xếp hợp lý và tối ưu không chỉ cho việc phục vụ khách mà còn tương ứng với môi trường cảnh quan của khu. Bản sắc văn hóa, trong các khu này không chỉ thể hiện trong các hoạt động văn hóa nghệ thuật dân gian truyền thống, mà còn được thể hiện trong các cơ sở phục vụ và trang phục của người phục vụ. Hầu hết những người phục vụ đều mặc trang phục dân tộc. Hàng hóa, quà lưu niệm cũng mang tính chất địa phương để phục vụ bán cho khách vừa mang tính kỷ niệm, vừa mang tính quảng cáo, tuyên truyền. Hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng và hàng năm có hàng ngàn, hàng vạn người đến thăm quan tạo nên sự đông đúc, nhộn nhịp quanh năm. Khách phải ở cả ngày mới có thể xem tương đối kỹ được các hoạt động của điểm tham quan này. Qua đây cho thấy, bản sắc văn hóa thể hiện đậm nét trong mỗi điểm tham quan. Về mặt kinh tế, nơi đây tổ chức được rất nhiều dịch vụ phục vụ khách, bán được nhiều hàng hóa của địa phương, thu hút được một lực lượng lao động lớn vào quá trình phục vụ khách, doanh thu từ hoạt động dịch vụ hàng trăm triệu đô la Mỹ cho một năm. Về mặt xã hội, nâng cao ý thức và lòng tự hào về truyền thống của người địa phương góp phần gìn giữ cảnh quan thiên nhiên, di tích danh thắng và phong tục tập quán tốt đẹp để tiếp tục thu hút khách. Về mặt du lịch, đây chính là cốt lõi của các chương trình du lịch và cũng là điều kiện để lưu giữ khách tham quan nhiều ngày. Làm được điều này đòi hỏi một sự phối hợp đồng bộ của các ngành nghệ thuật, văn hóa kết hợp với những nhà kinh doanh dịch vụ và du lịch. Đứng trên giác độ thiết kế chương trình du lịch và chương trình quan phải xây dựng được kịch bản mang đậm yếu tố văn hóa dân tộc và đặc sắc, gây được ấn tượng mạnh mẽ và sâu sắc. Mặt khác tính toán đủ thời gian cần thiết cho khách tìm hiểu và tiêu dùng các dịch vụ, hàng hóa. Người hướng dẫn viên hoặc hướng dẫn tham quan được xem như những diễn viên diễn xuất kịch bản này một cách tốt nhất. Đứng trên giác độ quy hoạch và xây dựng các điểm tham quan du lịch phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các nhà kinh doanh dịch vụ mới mục tiêu đảm bảo sự đồng bộ trong xây dựng và kinh doanh để đạt hiệu quả kinh tế – xã hội cao. Đất nước chúng ta có nhiều tiềm năng nhân văn và tiềm năng thiên nhiên phục vụ cho sự phát triển du lịch, nhưng chúng ta chưa có nhiều điểm tham quan mang tầm cỡ quốc gia và khu vực. Đây chính là điều cần phấn đấu để cạnh tranh nguồn khách trong khu vực và quốc tế.
Trịnh Xuân Dũng – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (14(66))1999.

Khách sạn Neptune điểm hẹn bên bờ biển Vũng Tàu

Khách sạn Neptune, tiền thân là khách sạn Kim Minh hoạt động tháng 12 năm 1996, đến tháng 8 năm 1998 đổi tên là khách sạn Neptune. Nằmtrên đường Hạ Long thơ mộng, phía trước là biển Đông, bãi dứa, hàng dừa, lưng tựa vào núi Tạo Phùng, khách sạn là một tòa nhà năm tầng, kiến trúc đẹp, thoáng mát, có 44 phòng hướng ra mặt biển, các phòng còn lại có cửa sổ nhìn ra biển. Các phòng nghỉ được trang bị tiện nghi hiện đại, nhà hàng phục vụ 24 giờ. Ngoài ra, khách sạn còn có một bãi tắm biển riêng, bảo đảm an toàn vệ sinh cùng hoạt động câu lạc bộ thể thao dưới nước như ca nô kéo dù bay, Jetski, lướt ván, kéo phao… Khách sạn thường xuyên mở các tuyến du lịch dã ngoại sinh thái học miền Duyên hải đến các đảo trong vùng, leo núi, thám hiểm các hang động, thăm quan và tìm hiểu các danh lam thắng cảnh, các khu di tích lịch sử. Đến nay, khách sạn Neptune đã đón tiếp trên 25 nghìn lượt khách trong và ngoài nước đến nghỉ. Với phương trâm khách hàng là thượng đế, khách sạn Neptune đang là điểm hẹn lý tưởng cho du khách trong và ngoài nước khi đến Vũng Tàu.
Thông báo Báo Tuần du lịch mở trang thông tin nóng du lịch
Nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng của các tổ chức, các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực du lịch, dịch vụ, thương mại và các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, cũng như mọi yêu cầu của du khách, báo Tuần du lịch từ số 14 ra ngày 5 tháng 4 năm 1999 sẽ mở trang thông tin nóng. Những thông tin được đăng trên báo Tuần Du lịch nhằm cung cấp, cho khách du lịch về các dịch vụ Du lịch, các tour, tuyến du lịch, các điểm, khu du lịch và những thông tin khác liên quan đến nhu cầu của du khách. Báo tuần du lịch kính mời các tổ chức và doanh nghiệp (Nhà nước và tư nhân) hoạt động trên lĩnh vực du lịch, các du khách trong và ngoài nước tham gia, cung cấp thông tin cho trang thông tin nóng du lịch này. Trang thông tin nóng sẽ miễn phí cho khách hàng 2 số đầu. Các số sau sẽ áp dụng cơ chế khuyến mãi nhằm phục vụ tốt mọi yêu cầu của quí khách.
Ngô Mạnh Hùng – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (13(65))1999.

Nguyễn Công Trứ một đời ngang dọc, một đời chơi – Phần 3

Uy viễn tướng công trở thành một ông già lữ khách ngất ngưởng được mô tả trong bài thơ nổi tiếng mà nhiều nhà nghiên cứu cho là bài thơ tuyên ngôn của ông. Trong bài thơ này một Nguyễn Công Chứ khác được khắc họa chân thực và tài tình. Ông Cố Lớn như dân Nghi Xuân quê nhà thường gọi, ngồi trên lưng bò vàng đeo nhạc ngựa, đít che mo cau để che miệng thế gian, gót tiên đủng đỉnh một đôi dì, làm cho Bút cũng nực cười ông ngất ngưỡng. Trong mười năm sau lúc về hưu, ở nhờ nhà chùa, sau đó về nương mái nhà thờ họ với một cái tráp đựng thơ, một cô vợ mới có 17 tuổi, ông thực sự là một lữ khách bốn bể là nhà. Chỉ đến lúc này con tuấn mã già mới được thực sự sống. Trước đây ông chỉ mới dám là mình thì giờ đây ông được là mình. Cuộc phân thân đến hồi đứt gãy vì mộng Nam Kha vừa tan, đất chơi đã rộng, sau mấy chục năm thỏa chí dọc ngang ngang dọc, hết nợ nam nhi, ông đã sống mười năm lữ khách một cách gấp gáp nhưng đằm thắm, ngang tàng nhưg thanh lịch (chơi cho lịch mới là hay) phóng túng mà sang trọng, say mê mà tỉnh táo, hàm hở nhưng thanh thản, tài tình dễ có mấy tay! Có nhà nghiên cứu cho rằng trong thơ ông, đời ông đã manh nha chất hiện sinh hiện đại. Hường hường, tuyết tuyết, mới ngày nào chưa biết cái chi chi… hay giang sơn một gánh giữa đồng, thuyền quyên ứ hự… tương tư không biết cái làm sao… những chi tiết chết người thường làm những vị đạo đức giả ngượng chín mặt lại được ông bộc lộ một cách công khai đàng hoàng với vẻ trào lộng chua xót. Chàng thanh niên Nguyễn Công Trứ năm mươi năm trước hai mươi ba tuổi ấy nay đã là Cố Lớn đi chu du thiên hạ với tán lang, lấy chiếc mo cau sau đít con bò vàng che miệng thế gian, nhưng ông táo bạo trong việc công khai các cuộc chơi, cuộc tình, ngay cả thời hiện đại cũng không mấy người dám bộc lộ một cách triệt để mà lại tài tình như ông: Ban ngày quan lớn như thần ban đêm quan lớn tần mần như ma ban ngày quan lớn như cha, ban đêm quan lớn ngầy ngà như con… Nguyễn Công Trứ là thế! Ông đã tung hoành suốt cuộc đời nam nhi, suốt cuộc chơi của người tài tử. Ông đã dám sống và được sống. Thơ ông, đời ông như một chớp sáng giữa cuộc trầm luân, nơi ông dấn thân ngang dọc, lang thang, cống hiến, và hưởng thụ với tư cách là một con người tài năng, một lữ khách bảy chục về hưu còn ở trọ và thanh thản nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo. Người lữ khách ấy mơ ước và xứng đáng được mơ ước, kiếp sau xin chớ làm người làm cây thông đứng giữa trời mà reo. Đó không phải là một tâm trạng yếm thế. Đó là vì ông sòng phẳng, ông có quyền làm vậy thông sau khi đã hết mình làm người.
Chú thích:
Nguyễn Công Trứ : Sinh năm 1778 quê ở Thái Bình, quê chính là Nghi Xuân, Hà Tĩnh, đậu giải nguyên năm 1819, binh bộ thượng thư triều Minh Mệnh năm 183, bị cách tuột làm lính thú năm 1844, về hưu năm 1848. Mất ở quê nhà năm 1858 dưới triều Tự Đức.
Trong bài thơ về đêm động phòng với cô tân lang trẻ Cố Lớn (Nguyễn Công Trứ) có câu “Tân lang nhược vấn tân lang kỳ – Ngũ thập niên tiền nhị thập tam” (Nghĩa là: Vợ mới hỏi chàng bao nhiêu tuổi – năm mươi năm trước ta hai ba).
Những chữ nghiêng là thơ của Nguyễn Công Trứ.
Kim Giang năm 1998.
Nguyễn Quang Thân – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (1 + 2(53+54))1999.

Nguyễn Công Trứ một đời ngang dọc, một đời chơi – Phần 2

Nguyễn Công Trứ phục vụ dưới ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, ông đã chiêm nghiệm được sự trung quân có nghĩa là gì, đã từng làm thơ ví von bọn quan lại trong triều như con mèo nằm bếp lò xo, ít ăn thì lại ít lo ít làm, hay ruột gan không có gai chông… còn ông thì như con tuấn mã xông pha vì dân vì nước để nợ tang bồng quyết trả cho xong! Cái Trung quân của ông xuất phát từ bản chất con người ông có chí làm trai nam bắc đông tây, cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể để thỏa mãn mộng ước, làm nên tiếng anh hùng đâu đấy tỏ của ông từ thuở đèn sách hàn vi. Nhưng dù vua quan thối nát đến đâu, ông vẫn giữ một lòng vì dân vì nước. Giáo sư Hà Văn Tuấn nhận xét rất đúng rằng chúng ta ngày nay phải hiểu cho Nguyễn Công Trứ khi ông tham gia dẹp mấy cuộc nông dân khởi nghĩa bởi vì đối với ông dẹp loạn là để yên nước, yên dân. Dù vậy những cái gọi là sự nghiệp lớn lao đó, cuộc chu du trong cõi đời đầy biến động lớn lao lên voi xuống chó của ông đã chưa từng lấn át được bản chất ngang tàng, phóng túng và ngất ngưởng của một kẻ lữ hành vừa chơi vừa hành động mà lòng vẫn canh cánh e đến khi hoa rữa trăng tàn – xuân nhất khắc dễ ngàn vàng khôn đổi chác. Và vị tướng quân, vị đại thần mẫn cán của bà triều vua ấy đã viết lên những lời chưa từng có trong thơ văn các nhà Nho trước và cùng thời với ông. Cuộc hành lạc được bao nhiêu là lãi đấy. Nếu không chơi thiệt ấy ai bù! Chơi là lãi! Đó là lời tuyên ngôn của nhà thơ Nguyễn Công Trứ, của con người Nguyễn Công Trứ. Nhưng cuộc chơi của ông không như ta tưởng, chỉ có hành lạc, hưởng thụ. Ông chơi ở trong thơ là nhà thơ duy nhất cho đến thời ông dám nói như thế, dám khẳng định cái tôi của mình, cái quyền sống của mình đến mức tác gan nhắn con Tạo hóa xoay vần lại, để khách tang bồng rộng đất chơi, ông muốn nói đời là một cuộc chơi, nhân thế nhược đại mộng, đã là mộng thì người nào chơi được nhiều là người ấy biết sống, sống có lãi. Nhưng trong đời thực ông không chơi. Ông luôn bị giấc mộng công danh và món nợ tang bồng ám ảnh với cái chí những toan sẻ núi lấp sông, làm nên đáng anh hùng đâu đấy tỏ. Chỉ đến khi nỗi ám ảnh và giấc mộng ấy trở thành mây khói với cuộc đời lên voi xuống chó do vua quan như cây vông, càng già càng xốp xáp, ruột gan không có gai chông, sau khi gói lại rồi đem trả hết sắc bằng cho vua Thiệu Trị, ông cởi áo từ quan về vườn với hai bàn tay trắng, nhà cửa không có, không tiền bạc. Sau một đời cúc cung tận tụy xứng đáng phận nam nhi thì giờ đây cái chủ trương chơi mà ông khởi xướng trong thơ từ những ngày trai trẻ mới được thi thố một cách độc nhất vô nhị chưa từng có. Bước chân đi trước thời đại của ông chính là ông đã sáng tạo được cho riêng mình một dòng thơ như nhà nghiên cứu Phạm Vĩnh Cư nhận xét: “Khẳng định nhu cầu hưởng thụ của con người, nâng nó lên thành cả một triết lý.
Nguyễn Quang Thân – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (1 + 2(53+54))1999.

Nguyễn Công Trứ một đời ngang dọc, một đời chơi – Phần 1

Không phải giờ người ta cũng dễ dàng hiểu đúng một con người bình thường quanh ta. Huống gì người đó lại là vị tướng công từng tham gia đàn áp nông dân khởi nghĩa rồi trở thành dinh điền sứ, được nông dân chính vùng đất mình vừa bình định xây sinh từ thời lúc còn sống. Người đó từng 7 lần bị giáng chức, phục chức mà ít khi có lý do rõ ràng, đã kinh qua từ Binh bộ Thượng Thư tới anh lính thú và có lúc đã lại nổi tiếng đương thời cũng như hậu thế về thói ngông và ăn chơi ngoài khuôn khổ. Là một nhà thơ tài ba khoa bảng mà khác hẳn với đồng liêu, đồng môn, chỉ làm duy nhất một bài thơ chữ Hán bên cạnh gần một ngàn bài thơ chữ Nôm… Nguyễn Công Trứ là một nhân vật đặc biệt đương thời, hành vi xuất xứ và thơ văn của ông là độc nhất vô nhị trong lịch sử. Triều đình ghét mà cần ông, không bỏ ông được. Dân Thái Bình, Nam Định ngày xưa cắm ông bình định Phan Bá Vành nhưng lại ơn ông vì công trình khai phá một vùng đất từ cửa Trà Lý đến cửa Ba Lạt, đưa lại ấm no cho bách tính một vùng rộng lớn. Làm tướng cũng giỏi, làm thơ cũng hay, phóng túng vượt hẳn thói thường đương thời, dám là mình, làm người tình thì say đắm hết mình và cuối cùng, gồm lại tất cả sự nghiệp văn chương, hành lạc, ông là một lữ khách (đúng cả nghĩa đen và nghĩa bóng) trong cuộc đời hơn tám mươi năm đằng đẵng từ năm 1779 đến 1858. Nguyễn Công Trứ là một lữ khách?. Đúng, bởi vì cuộc thế đối với ông trước sau chỉ là một cuộc chơi. Đời là cái sân khấu mênh mông tất sẽ có một ngày các vai diễn đều phải cởi bỏ mũ áo. Nhưng quan niệm về cuộc chơi của Nguyễn Công Chứ, giáo sư Vũ Ngọc Khánh, gồm những trường đoạn mà ít có nhà nho nào thời trước và sau ông có được: “Một giấc mộng công danh trả nợ tang bồng, một ngang tàng khí phách bất chấp chìm nổi, một lòng yêu sự sống khẳng định tư tưởng dân thân, một chí khí anh hùng đan xen phong cách tài tử”. Biết đời là mông nhưng đã mang tiếng ở trong trời đất thì phải có danh gì với núi sông, chẳng quân thần phụ tử đếch ra người, là kẻ sĩ, trước là sĩ, sau là khanh tướng, là nam nhi thì phải hơn nhau một tiếng công hầu, cho đến lúc nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo! Để sau đó thảnh thơi thơ túi rượu bầu!. Và ông sống cuộc sống thơ túi rượu bầu không chỉ lúc về già, sau khi đã cáo quan mà ngay cả lúc ông đang là một tướng công, một ông tổng đốc, một ông quan nhỏ trong triều hay một anh lính thú. Không ai như ông đưa cả đào hát vào ăn chơi trong tiền doanh quân ngũ. Không ai như ông cưỡi bò vàng, đeo nhạc ngựa rong chơi trong kinh thành, mang cả hầu nôn và kỹ nữ lên chùa tổ chức hát xướng, phá đám cảnh thoát tục của các nhà sư. Nhưng cũng không có cuộc đời phiêu bạt chìm nỗi như ông trong đất nước thời nửa loạn nửa trị của nhà Nguyễn (Người ta đã thống kê có đến hàng trăm cuộc nông dân khởi nghĩa thời này).
Nguyễn Quang Thân – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (1 + 2(53+54))1999.