Một di sản văn hóa độc đáo

Du khách thăm Huế bao giờ cũng dừng ngắm thật lâu và trầm trồ ca tụng hết lời 9 chiếc đinh đồng lớn đặt trước sân Thế Miếu, Đại Nội Huế. Vâng, đó là cửu Đinh, nhưng Đính Triều Đại, một công trình điêu khắc tuyệt vời, đỉnh cao của nghệ thuật đúc đồng Việt Nam thế kỷ 19, đồng thời là biểu tượng thiêng liêng của nước Việt muôn đời. Ngày Xuân, chúng tôi xin kể hầu bạn đọc một số tư liệu xung quanh nhóm tượng đài quý giá này.
Tập san “Những người bạn Cố đô Huế” (B.A.VH) năm 1924 dẫn sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, vào năm Minh Mạng thứ 16, mùa đông, tháng 10, vua truyền lệnh cho Ngự tiền văn phòng: … Toàn dàn đã theo đuổi mục đích của các vị tiên đế và luôn luôn nghĩ đến phong tục tập quán về uy quyền được truyền lại, nay ta quyết định… đức 9 đình để đặt ở Thê Miếu…”. Nhà vua còn đặt tên các đinh và quy định vị trí như sau: Ở giữa là Cao Đinh – tượng trưng cho sự vĩ đại. Tám đinh tiếp theo chia thành hai hàng bên phải và bên trái. Hàng bên phải gồm Chương Đinh, tượng trưng cho ánh sáng; Nghi Đinh – cương nghị; Tuyên Đinh – Tinh thông; Huyền Đinh – huyền kỳ. Hàng đinh bên trái: Nhân Đinh, tượng trưng cho đức; Anh Đinh – Hiện đạt; Thuần Đinh – tinh khiết; Dư Đinh – phong phú. Cũng theo quy định của vua Minh Mạng mỗi Đinh ứng với một triều vua: Cao Đỉnh – Gia Long, Nhân Đinh – Minh Mạng, Chương Đinh – Thiệu Tri, Anh Đinh – Tự Đức, Nghị Đinh – Kiến Phước, Thuần Đinh – Đồng Khánh. Còn 3 đinh Cuối cùng nhà vua chưa đặt tên và không có tượng trưng! Trong chiếu dụ trên, vua còn ra lệnh cho Bộ Công: “Trên các đinh đế đúc phải khắc các hình núi, sông, người và động vật. Không chỉ phải khắc cho đủ mà còn phải chạm rõ ràng dùng vị trí để ghi nhớ tài liệu và cho rõ là của ai”. Toàn bộ số đồng Không lọ để đúc Cửu Đinh là 22.473kg cho 9 đinh, mỗi đinh nặng hơn 2 tấn. nặng và cao nhất là Cao Đinh (chiều cao 2 mét 2, đường kính 1mét 61). Các nhà Huế học cho rằng. Cửu Đinh là tuyên ngôn của vua Minh Mạng về văn hóa, chủ quyền Việt Nam, thể hiện tư tưởng của vị vua anh minh sáng giá nhất triều Nguyễn. Cửu Đinh hướng ý trời (Cửu Trùng), tượng trưng cho quyền lực vô hạn và sự bền vững của triều đình và muôn dân Việt. Tuyện ngôn đò gồm 17 mò típ khắc chạm, nổi trên các Đinh thể hiện bằng 153 hình ảnh chọn lọc vẻ sông núi, sản vật ba miền nước Việt thân yêu và cuộc chiến đấu để giữ gìn những giá trị văn hóa trường tồn của dân tộc! Trong 17 mo tip đó cao nhất là Trời gồm mặt trời, mặt trăng, gió, mây, sấm sét, những ngôi sao (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ)… Kế đến là Đất gồm: Biển Đông Hải, Nam Hải, các sông (Vĩnh Tế, sông Sài Gòn, sông Tiền Giang, Hậu Giang, sông Vệ, sông Hương, sông Mã, sông Hồng, Bạch Đằng Giang, sông Đà, sông Lô sông Thao…) núi như: Hái Vân, Núi Thiên Tôn Sơn (Thanh Hóa), núi Ngự Bình, núi Hồng (Hà Tĩnh), núi Tản Viên… Sạu đó là các loại sản vật ba miền nước Việt như gỗ quý, cây ăn quả, cây thực phẩm, hoa cảnh, muôn thú như: chim công, beo, đồi mồi, cá ông, gà trống, rùa, tê giác, cá sấu, hạc, ngựa, ve, tràn, chim uyển ương, voi, cá, trâu, lợn, bò tót, cá rô, cà cuống, dê, sò huyết v.v… Tiếp theo là hoa trái, cây ngũ cốc như mít, củ hành, lúa, hoa sen, lúa nếp, cây bắp (ngô), đậu, củ kiệu, cây xoài, cày quế, mận, cây dâu tằm, cày trầu, củ nghệ v.v… Nhóm hình ảnh thứ 17 là các loại vũ khí đánh giặc như: có hiệu, thuyền, giáo đai, gươm, cung, xe ngựa/ ống đột đạn (hỏa tiễn) v.v… Chỉ đọc tên các sản vật, biết ngay đồ là nước Việt! Hoàng đế Minh Mạng đương thời là ông vua trống nồng. Nhiều công trình nông nghiệp có giá trị lớn trong việc chấn hưng kinh tế Đại Việt đương thời. Một số công trình còn phát huy giá trị kinh tế xã hội và quốc phòng tới tận ngày nay như kênh Vĩnh Tế (Nam Bộ), lập đất, lấn biến, mơ cõi ớ Kim Sơn, Tiến Hải (Thái Binh)… Tư tưởng khuyến nông của Minh Mạng còn thể hiện rất sinh động trên Cứu Đinh. Tháng 6 năm 1836, năm Minh Mạng thứ 17, người ta đúc xong Cửu Đinh, các thợ ba bắt đầu khắc chạm các hình vào Đinh cho đến tháng 3 năm 1837. Năm Đinh Dậu, niên hiệu 18 Minh Mạng ngày Quý Mão tháng Giêng (1/3/1837) vua lệnh truyền cho các bộ: “sau khi đã tắm gội sạch sẽ”, tiến hành đặt đinh vào Thế Miếu như hiện nạy! Các nhà Huế học cho biết cửu Đinh còn ẩn chứa nhiều sự bí ẩn cần được tiếp tục nghiên cứu, khám phá.
Nguyễn Thị Minh Tâm-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (3(55))1999.

Thêm một di tích lịch sử được xếp hạng

Tháng 8 năm 1998, làng Dương Khê xã Phương Tú, Ứng Hòa, Hà Tây, đón nhận bằng xếp hạng văn hóa quốc gia cho cả ngôi đình và ngôi chùa làng. Ngôi chùa, nằm giữa cánh đồng, có tên cổ là chùa giàng, được xây dựng từ thời Lê Trung Hưng. Khi lập hồ sơ xếp hạng, mới phát hiện ở ngôi chùa này nhiều di tích quý giá: Tấm bia đá dựng năm 1623, nhiều pho tượng và kinh bổn nhà Phật từ thời Lê, đôi chân đèn thời Mạc. Đặc biệt kiến trúc chùa (gác chuông, cổng tam quan, tòa đại bái…) hầu như còn bảo lưu nguyên vẹn dấu ấn bàn tay tài hoa của những người thợ từ thế kỷ XVII. Đình làng cũng giữ lại nhiều mảnh điêu khắc tuyệt tác, rất gần gũi với tuyệt tác điêu khắc đình Hoàng Xá gần đó. Thì ra, Dương Khê tên chữ, có nghĩa là dòng suối ánh sáng, vốn là một vùng đất văn vật, nơi con đường thiên lý từ kinh đô Thăng Long mở về hướng Nam, nơi tụ nhiều tinh hoa văn hóa từ xa xưa, một địa danh rất đáng để các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử tiếp tục soi rọi.
Nhà tù Sơn La (SON LA PRISON)
Nhà tù Sơn La do người Pháp xảy dựng năm 1908 và mở rộng vào những năm 1930 – 1940. Ban đầu đây chỉ là một nhà tù nhờ hàng tính (in the beginning, it was only a small provincial prisọn). Từ năm 1930 – 1945 nhà tù Sơn La trở thành nơi giam cầm hàng ngàn người Việt Nam yêu nước (since 1930 – 1945 it became the place of emprisonment of thousands of Vietnamese patriots). Trong những năm ớ tú tại đây (for years in this prisón) nhiều người đã trở thành những cán bộ chủ chốt của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc (many prisoners have became main leaders of the revolution- ary for national liberation).
Đến khu di tích cách mạng nhà tù Sơn La du khách sê được thăm lại các xà lim ngầm (subterrainous cells). xà lim chéo (slainting cells), trại ba gian (the 3 compartment camp), trại lớn cũ (the old big camp) cùng hàng trăm hiện vật (with hundreds of exhibits) và thấy lại hoàn cảnh sống cơ cực của các tù nhân (miserable situation 0< the prisoners).
Năm 1962, di tích nhà tù Sơn La đã được Bô Văn hóa – Thông tin xếp hạng là một trong nhiều di tích cách mạng của cả nước (in 1962, the Son La Prison was classiíied by the Ministry of Culture and Intormatinon as oneot many sites of revolutionary relics in the vvhole country).
Nguyễn Văn Nức -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (16(68))1999.

Ban nhạc “khát vọng ánh sáng” Biểu diễn tại Holton Hanoi Opera

Khách Sạn Hanoi Opera vinh dự thông báo được làm nhà tài trợ và tổ chức cuộc biểu diễn của ban nhạc “Khát vọng ánh sáng”, ban nhạc do các nghệ sĩ khiếm thị biểu diễn nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Hội người Mù, ngày 15 tháng 4 năm 1999. Tất cả các nghệ sĩ trong ban nhạc đã học tại Học Viện m nhạc Hà Nội và là thành viên của hội người mù – một tổ chức phi Chính phủ. Đặc biệt trong buổi trình diễn sẽ có sự tham gia của nghệ sĩ ưu tú Văn Vượng, Nhà giáo nhân dân, nhạc sĩ Văn Khải đạo diễn nghệ thuật. Trong số các vị khách mời có các quan khách Chính phủ, các vị đại biểu Ủy ban nhân dân thành phố, các vị lãnh đạo Bộ Thương Binh xã hội và các nhà Ngoại giao. Chương trình biểu diễn ca nhạc nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập hội người mù Việt Nam.
Đồng tài trợ: Bệnh viện Quốc tế Việt Nam.
Địa điểm: Hội trường “Thuyền Rồng”, khách sạn Hilton Hanoi Opera.
Số 1, Lê Thánh Tông, Hà Nội – Điện thoại: 9330500.
Ngày thứ năm, 15 tháng 4 năm 1999.
Thời gian: 7 : 30 p.m – 9 . 00 p.m
Giá vé: 30 nghìn đồng – 50 nghìn đồng một đôi. Địa điểm bán vé:
Khách sạn Hilton Hanoi Opera. Số 1, Lê Thánh Tông Hà Nội. Văn phòng Hội người mù Hà Nội. số 22, Lý Thái Tổ, Hà Nội.
Rất hân hạnh được chào đón các bạn trong chương trình biểu diễn đặc biệt này.
Đến với suối tiên gặp vua Hùng dựng nước
Khu du lịch Suối Tiên (thành phố Hồ Chí Minh) có diện tích gần 100 héc ta với gần 40 hạng mục công trình được xây dựng khá đồ sộ. Một trong những công trình quý giá ở đây là chân dung vua Hùng vĩ đại, kèm theo sự tích và huyền thoại về bánh chưng, bánh dày.
Lai Châu: Bắt giữ tội phạm về ma túy.
Hồi 9 giờ 00 phút ngày 7 tháng 4 năm 1999, tổ tuần tra của phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh đã phối hợp với công an huyện Tuy Phong Thổ kiểm tra xe ô tô khách 274 – 0787 do Nguyễn Thanh Tùng điều khiển phát hiện và thu giữ 1,8 kg thuốc phiện để ở trong túi vải đặt tại gầm ghế, đồng thời tạm giữ 1 đối tượng nghi vấn đề làm rõ. Ngày 8 tháng 4 năm 1999, phòng cảnh sát phòng chống tội phạm về ma túy phối hợp với lực lượng cảnh sát kính tế và cảnh sát điều tra của tỉnh phá chuyên án về ma túy đã bắt Sài Chính Phương 34 tuổi, trú ở bản Cò Mi, Thanh Chăn, Điện Biên và Lò Văn Phiêng 37 tuổi ở bản Hạ, Thanh Yên, Điện Biên thu 1 bán heroin (0,36 kg), 3 nghìn kíp Lào và một số giấy tờ có liên quan. Hiện công an địa phương đang tiếp tục điều tra làm rõ.
V.T – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (16(68))1999.

Hội An trên đường trở thành trung tâm du lịch Quảng Nam – Phần 3

Chính với cái nhìn ấy đã phác thảo ra 7 khu du lịch gồm: Khu du lịch ven biển Cửa Đại và dọc sông Đế Võng, khu du lịch Tân Thành – Cửa Đại, khu bãi tắm Cẩm An, khu du lịch, Cù Lao Chàm, khu du lịch vùng cồn nổi Cẩm Nam, Cẩm Thanh, Cẩm Châu, An Hội, khu du lịch dọc sông Đồ, khu du lịch làng nghề truyền thống và làng quê. Thị xã cũng đang đầu tư kinh phí để mở những lớp dạy nghề truyền thống và khôi phục lại các làng nghề: mộc Kim Bồng, gốm Thanh Hà, chiếu cói Cẩm Kim đang có các dự án phát triển các làng hoa, cây kiểng, làng rau Trà Quế… dự án du lịch biển Cửa Đại, dự án của công ty liên doanh Hoài Giang… những sự rục rịch ấy đang dự báo khả năng hình thành bộ mặt toàn cảnh của du lịch Hội An. Tuy nhiên, theo nhiều nhà chuyên môn khi mở rộng không gian du lịch, Hội An cần cân nhắc về không gian, thời gian, về loại hình du lịch thích hợp, về quy mô của từng dự án, từng công trình… Yếu tố thị trường và thị hiếu du khách cần được lưu ý khi mở rộng không gian du lịch. Có thể nói Hội An đang tự đặt mình vào cuộc đua tốc độ và không thể thua cuộc. Bởi lẽ bây giờ Hội An không còn là riêng của mình nữa. Hội An đang tập trung sự chú ý, quan tâm và là niềm kỳ vọng của tỉnh và của cả Trung ương. Ít nhất trước mắt Hội An đang dần hình thành một mô hình thị xã văn hó cần được nhận diện và bản thân nó đang chứng minh một khả năng chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý và hiệu quả. Hội An đang rất cần tiếp sức của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương. Đáng tiếc sự tiếp sức đó vẫn còn rất chừng mực, nhất là về vật lực. Ngay cả dự án đầu tư, bảo tồn và khai thác đô thị cổ Hội An đã được Chính phủ phê duyệt là dự án nhóm A cấp quốc gia với tổng kinh phí đầu tư 122 tỷ đồng cho giai đoạn 1997 – 2005 cũng được thực hiện rất nhỏ giọt (chỉ mới đầu tư là 3 tỷ đồng cho cả hai năm 1997, 1998), Hội An cũng như Quảng Nam hôm nay, đang rất lo lắng đến sự sụp đổ của hàng loạt di tích trong lòng đô thị cổ. Nếu tình trạng này kéo dài và thời điểm này đi qua mọi dư liệu thảm hại sẽ thành hiện thực, lúc ấy có điều kiện đến mấy cũng không phục hồi đô thị cổ như vốn có. Hội An đang là một thông điệp bức thiết nhất kêu gọi sự quan tâm của bất cứ ai, của ngành nào, cấp nào để trở thành một điểm du lịch đặc biệt, đơn thuần là một Hội An như đã từng có, từng được yêu mến và kỳ vọng.
Huỳnh Phước -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (3(55))1999.

Hội An trên đường trở thành trung tâm du lịch Quảng Nam – Phần 2

Sao cho bảo tồn cá thể phải gắn bó mật thiết với bảo tồn tổng thể?… Với hàng loạt những đòi hỏi nghiêm ngặt như thế rõ ràng một mình Hội An không đủ sức dù đã có gắng. Thị xã đã tận dụng mọi diễn đàn có thể để kêu gọi sự giúp sức của mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức, mọi cá nhân có trách nhiệm và có tâm huyết với đô thị cổ. Đã tạo ra cơ chế hợp lý phát huy những các mặt mạnh của mình bước đầu bảo tồn sử dụng di tích và danh thắng Hội An. Cũng như để hạn chế những hoạt động dân cư có thể xâm hại hoặc phá hỏng môi trường văn hóa đô thị, thị xã đang thực hiện giãn dân từ đô thị cổ ra hai phường sẽ thành lập mới: Tân An và Thanh Hà (đã trình Chính Phủ phê duyệt). Tất cả những hoạt động ấy là một cách để thị xã góp phần bảo tồn được đô thị cổ linh hồn của Trung tâm du lịch Quảng Nam nay mai. Từ nhiều năm nay Hội An đang cố gắng làm sống lại môi trường văn hóa phi vật thể đã tồn tại từ nhiều thế kỷ trước và đang có nguy cơ mai một. Các lễ hội Cầu Ông, rước Long Chu, việc tổ chức các ngày Hội An, đêm phố cổ… đã tạo được những ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách và nhân dân thị xã. Với sự am hiểu và tôn trọng các di sản cùng với lòng hiếu khách và khả năng ứng xử văn háo của người dân tạo nên tiếng lành đồn xa cho một Hội An vốn đã nổi tiếng với du khách gần xa. Không khi ngờ gì chính những bản sắc văn hóa Hội An sẽ góp phần quyết định sự thành công của công ty du lịch Quảng Nam mai sau. Hiển nhiên trên lĩnh vực này, Hội An còn phải cố gắng nhiều hơn nữa, nhất là sự tạo ra nề nếp, hợp pháp và hiệu quả trong môi trường kinh doanh du lịch vốn còn những bất cập lâu nay. Để xây dựng Hội An thành một Trung tâm du lịch thì thị xã cần phải cố gắng ở nhiều lĩnh vực khác nữa. Mà đơn cử có thể nói đến là việc mở rộng không gian du lịch. Các nhà nghiên cứu với những cách tiếp cận khách nhau đã chỉ ra rằng Hội An nằm trên những cái trục văn hóa, thương mại rất lý thú… Chẳng hạn như cục văn hóa Chăm Pa: Thánh địa Mỹ Sơn, Kinh đô Trà Triệu, Cảng thị Hội An, đảo Cù Lao Chàm… với cái nhìn chuyên môn ấy nếu biết khai thác và quy hoạch hợp lý sẽ tạo ra những tour, tuyến, những loại hình du lịch độc đáo. Với riêng Hội An, cần phải thấy sự hài hòa của đô thị cổ trong diện mạo chung của làng quê, môi trường sinh thái, phong tục dân cư.. toàn thị xã.
Huỳnh Phước -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (3(55))1999.

Hội An trên đường trở thành trung tâm du lịch Quảng Nam – Phần 1

Việc xác định xây dựng thị xã Hội An trở thành trung tâm du lịch lớn của tỉnh Quảng Nam và miền Trung đã được đặt ra như là một trong những mục tiêu kinh tế – xã hội chủ yếu của tỉnh. Ngày 22 tháng 8 năm 1998 trong cuộc họp lãnh đạo thị xã Hội An, chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam đã đồng ý với đề nghị xin quy hoạch Hội An thành Trung tâm du lịch của tỉnh Quảng Nam vào giao nhiệm vụ cho thị xã Hội An phối hợp với các sở, ban hành của tỉnh hoàn thành bản quy hoạch trong năm 1999. Ý kiến chỉ đạo ấy đã hình thành nên một cách rõ nét con đường đưa Hội An trở thành một Trung tâm du lịch. Việc đưa Hội An trở thành một Trung tâm du lịch không chỉ đơn thuần có ý nghĩa trên lĩnh vực chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà còn nhằm tạo điều kiện thuận lợi để Hội An bảo tồn và phát huy những quần thể di tích văn hóa vô giá của địa phương góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của đất nước. Cần phải khẳng định những cố gắng của thị xã Hội An trong việc đặt ra những nhiệm vụ hết sức nặng nề cho mình. Đó là bảo tồn đô thị cổ, phát triển văn hóa dân tộc, mở rộng không gian du lịch.. những vấn đề cơ bản phải được đặt ra trong nội dung của bản quy hoạch nay mai dù cho cấp nào soạn thảo và hiểu Trung tâm du lịch theo một khái niệm nào, đi chăng nữa, thì mọi vấn đề cần phải được đưa ra một cách cụ thể và rõ ràng có như vậy sẽ làm cho ngành du lịch, các di tích văn hóa – lịch sử sẽ được bảo quản và trùng tu một cách đúng đắn và thích hợp. Để bảo vệ từ xa cho đô thị cổ, thị xã đã đầu tư hàng tỷ đồng để xây dựng các bờ kè Ngọc Thành, Cẩm Nam, Cẩm Hà… Đặc điểm thị xã đã rất cố gắng trong việc trùng tu, phục chế các di tích đang bị hư hỏng. Đây là một vấn đề nan giải. Vì ngoài việc phải lấy nguồn đâu ra cho phục chế (có những ngôi nhà cổ muốn phục chế nguyên trạng phải tốn từ 1,5 đến 2 tỷ đồng), còn là vấn đề phải phục chế như thế nào? Làm sao cho việc bảo tồn di tích vừa đạt yêu cầu duy trì kiến trúc cổ vừa phải phù hợp với yêu cầu đời sống nhân dân trong tình hình mới với tác động liên tục của cơ chế thị trường của đời sống hiện đại?
Huỳnh Phước -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (3(55))1999.

Thủ đoạn mới của lái xe

Dùng dĩa CD vô hiệu hóa máy đo tốc độ
Theo tin từ Cục cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt mới đây đã phát hiện nhiều lái xe khách và xe con gắn đĩa CD trên xe nhằm vô hiệu hóa máy đo tốc độ của cảnh sát giao thông. Vụ gần đây nhất xảy ra trên quốc lộ 1, địa bàn tỉnh Hà Tây. Tổ tuần tra gồm có 5 chiến sĩ Cảnh sát giao thông phát hiện xe khách biển kiểm soát 36N – 1069 chạy tương đối nhanh. Khi các anh bấm máy đo tốc độ do Mỹ sản xuất để đo vận tốc xe này thì một hiện tượng chưa từng có đã xảy ra, mấy không thông báo số! Lập tức các chiến sĩ phóng mô tô đuổi theo yêu cầu dừng xe. Qua kiểm tra cho thấy xe chở quá số người quy định, trên tấm kính, chắn gió ở đầu xe có đặt một chiếc đĩa CD hỏng. Lái xe Nguyễn Văn Tắc trú quán tại Hoàng Khánh, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa khai: “Nghe nhiều người mách gắn đĩa CD sẽ làm liệt máy đo tốc độ của Cảnh sát giao thông đường bộ số 1 cho biết trước đo trong một cuộc họp, một vài địa phương đã có thông báo về hiện tượng trên. Theo nguồn tin không chính thức, “nhà phát minh” đã lợi dụng chế độ phản xạ tia Laze của đĩa CD làm nhiễu máy đo. Có ý kiến cho rằng máy đo hoạt động theo nguyên lý phát sóng rađa đập vào phương tiện giao thông, phản lại máy đo. Đĩa CD triệu tiêu sóng rađa nên máy không thể đo được. Theo thiếu tá Phi, các xe trên điều chạy quá tốc độ, một trong những nguyên nhân chính gây ra tai nạn giao thông đường bộ. Qua điều tra trào lưu gắn đĩa CD trên xe lan truyền từ phía Nam ra. Chúng tôi được biết cục Cảnh sát giao thông Đường bộ – đường sắt đã giao cho Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số 1 sắp tới thử nghiệm trên thực địa dưới nhiều góc độ, nhiều tốc độ, cả đĩa CD hình và tiếng để có kết luận chính thức. Từ đó sẽ đề ra chế tài xử lý lái xe dùng đĩa CD chống lại máy đo tốc độ (đều nhập ngoại), đề nghị nhà sản xuất có phương pháp chống lại tối kiến này.
Ngo Quyen Hotel Company
Nhân dịp đầu năm tập thể Cán bộ công nhân viên khách sạn Ngô Quyền kính chúc quý khách An Khang – Thịnh vượng.
Giám đốc: Trần Văn Minh. Khách sạn Ngô Quyền – Huế là một trong những khách sạn đẹp nhất ở Trung tâm thành phố Huế, đạt tiêu chuẩn khách sạn quốc tế. Được xây dựng mới với quy mô 6 tầng có trang bị thang máy, trang trí, nội thất đẹp và hài hòa, có tầm nhìn bao quát toàn cảnh cố đô Huế và dòng sông Hương thơ mộng, là một vị trí lý tưởng cho du khách dừng chân nghỉ ngơi thưởng ngoạn và giao dịch thương mại. Đội ngũ nhân viên trẻ trung, nhiệt tình, và tinh thông nghiệp vụ luôn sẵn sàng chào đón và phục vụ quý khách.
Các dịch vụ của khách sạn:
Nhà hàng chính phục vụ 180 khách.
Nhà hàng – bar sân thượng phục vụ 80 khách.
Nhà hàng Cung đình phục vụ 50 khách.
Dịch vụ bán hàng lưu niệm, quay phim, chụp ảnh, thư tín điện tử.
Tắm hơi – massage, giặt là, phòng hát karaoke.
Dịch vụ lữ hành, hướng dẫn, vận chuyển và tổ chức tham quan du lịch, du thuyền và ca Huế trên sông Hương.
Tr. Hiếu -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (4(56))1999.

Cờ người môn thể thao ngày xuân

Cứ mỗi độ xuân về, Tết đến, bên cạnh các trò chơi khác như chọi gà, chọi chim… với nét độc đáo riêng, cờ người luôn tạo được sự hấp dẫn, cuốn hút người xem và góp phần làm cho không khí phố phường, làng quê thêm phần sinh động, vui tươi, khởi sắc. Theo ông Nguyễn Tấn Thọ, cựu vua cờ Hà Nội và danh thủ nổi tiếng Lê Uy Vệ, phó chủ tịch Liên đoàn cờ Việt Nam, chủ tịch phân hội cờ tướng Việt Nam, thì cờ người xuất hiện ở nước ta vào thời nhà Lê, cách đây khoảng 300 năm. Cờ người có mặt ở nhiều nơi, nhưng có lẽ nhiều hơn cả vẫn là vùng Hà Nội và các tỉnh lân cận. Riêng Hà Nội, thi đấu cờ người thường được tổ chức tại Chùa Vua (nơi thờ thần cờ Đế Thích) vào ngày mồng 9 tháng giêng âm lịch, Văn Miếu Quốc Tử giám vào các ngày mồng 3 và 4 và Trung tâm triển lãm Giảng Võ, có khi cả tại Gò Đống Đa vào ngày mồng 5 Tết… Cờ người thực chất là một người. Những người trong đội cờ người (gồm 16 quân cờ năm và 16 quân cờ nữ) đều phải là những thanh thiếu niên tuổi từ 15 đến 18, chưa vợ chưa chồng, xinh đẹp, tuấn tú và bản thân cũng như gia đình phải lương thiện. Trong các đội cờ người, Tướng trẻ là các người đẹp và oai phong nhất đội. Các quân Sĩ cũng phải đẹp gần như Tướng. Các quân Tượng là những người đậm đà, trong khi các quân Mã là người nhỏ nhắn. Ít tuổi nhất là các quân Tốt (15 đến 16 tuổi) tuy nhiên người đẹp nhất là quân Tốt giữa. Ngoài ra, các đội cơ người còn có Tướng ông và Tướng bà ngồi ở ngoài sân. Tướng ông và Tướng bà có nhiệm vụ tập hợp quân lúc luyện tập, lo các bữa ăn phụ, nước nôi… nên cũng đòi hỏi phải có khả năng kinh tế nhất định và đương nhiên gia đình cũng phải song toàn. Trang phục đội cờ người mới trông có vẻ như phường tuồng, nhưng ở mỗi đội có khác nhau. Thông thường quân cờ nam mặc áo dài màu xanh, quần trắng, đi giày da, đội khăn xếp riêng Tướng và Sĩ đội mũ cánh chuồn. Các quân cờ nữ thì mặc áo hồng, quần trắng, đầu quấn khăn đỏ, chân đi hài… Được chơi cờ người là điều vinh dự. Bởi vậy, hầu hết ở các nơi, người chơi cờ thường tự lo sắm lấy trang phục cho mình. Muốn được chơi cờ phải qua bàn kiểm tra sức cờ, nếu khá thì được dự thi còn nếu kém thì sẽ bị loại. Trên bàn cờ người, vị trí các quân đều được bố trí sẵn ghế. Tướng được ngồi ghế bành có lọng che con các quân thì ngồi ghế tựa, trước mặt có cắm có cắm biển tên quân cờ. Trước khi trận đấu diễn ra là nghi thức rải quân. Khi chơi cờ, đấu thủ phất quân cờ nào thì người quân cờ ấy đứng dậy đi và ngồi xuống nơi đấu thủ phấ cờ chỉ dừng lại ở đó. Riêng Tướng, khi thực hiện nước cờ, thì chỉ di chuyển biển chứ không di chuyển người. Quân nào bị loại sẽ được đưa ra khỏi sân. Trước đây, trong các cuộc chơi cờ thường có hai tiểu đồng mặc áo đỏ đến thúc tống đối với người chơi tính nước lâu. Ngày nay đã có những chiếc đồng hồ hai mặc chuyên dụng thay cho việc đó. Không khí tại các nơi diễn ra thi đấu cờ người bao giờ cũng đông vui, náo nhiệt Người ta đến xem nghệ thuật chơi cờ, xem các đấu thủ, ông Tướng, bà Tướng đẹp ra sao và không quên bình luận, trầm trồ, tán thưởng những nước cờ hay, những pha tấn công sát thủ. Cờ người là môn thể thao đậm nét văn hóa. Trong các cuộc thi đấu cờ người, thắng thua không phải là điều quan trọng nhất, mức thưởng cho các giải cũng thấp (giải nhất chỉ khoảng từ 500 đến 1 triệu đồng) nhưng vì đó là thú vui trong ngày xuân, nên bao giờ cũng cuốn hút người chơi và người hâm mộ, trong đó có cả không ít các vị khách tây.
Trường Đinh -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (4(56))1999.

Hội nghị tuyên truyền quảng bá du lịch Việt Nam

Để chuẩn bị cho chương trình: “Hành động quốc gia về Du lịch và các sự kiện Du lịch Việt Nam vào năm 2000, sáng ngày 20 tháng 1 năm 1999 tại hội trường khách sạn Thắng Lợi – Hà Nội, Tổng cục Du lịch đã tổ chức Hội nghị tuyên truyền quảng bá du lịch Việt Nam năm 1999. Đồng chí Võ Thị Thắng ủy viên Trung ương đảng, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam cùng các đồng chí Phó Tổng cục trưởng Đặng Văn Tin, Phạm Từ chủ trì hội nghị. Về dự hội nghị còn có các cơ quan, ban Ngành Trung Ương, các cơ quan thông tấn báo chí, đại diện Tổng công ty Hàng không, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và gần 200 đại biểu thuộc các đơn vị lữ hành quốc tế. Trong báo cáo tham luận “Tình hình và phương hướng biện pháp đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá du lịch Việt Nam do phó Tổng cục trưởng Phạm Từ trình bày (báo Tuần Du lịch sẽ trích đăng trong số báo sau) đã nêu bật tình hình công tác tuyên truyền quảng bá trong nước và nước ngoài, về những hạn chế và tồn tại, đồng thời đề ra phương hướng, giải pháp, biện pháp triển khai trong thời gian tới cùng những kiến nghị với Đảng và Nhà nước về công tác tuyên truyền quảng bá du lịch. Nhiều tham luận của đại biểu các ban, ngành Trung ương và địa phương. Tổng công ty Hàng không Việt Nam, ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, các sở, các công ty lữ hành quốc tế, khoa du lịch khách sạn trường Đại học kinh tế Quốc Dân…. Đã tập trung phân tích những mặt yếu, mạnh của công tác tuyên truyền quảng bá trong thời gian đã qua. Hầu hết các ý kiến tham luận đều tập trung khẳng định tầm quan trọng của các công tác tuyên truyền quảng bá du lịch như một mũi nhọn tháo gỡ để du lịch Việt Nam mở cửa và hòa nhập với thế giới. Nhiều ý kiến trăn trở xoay quanh vấn đề: Làm thế nào để có tài chính phục vụ cho công tác này? Nhiều ý kiến cho rằng: cần tạo ra cơ chế xã hội hóa nguồn tài chính phù hợp để thúc đẩy công tác quảng bá xúc tiến du lịch. Nhất thiết phải có một quỹ dành cho hoạt động Makerting trên phạm vi quốc gia. Các doanh nghiệp du lịch trong nước hàng năm cần đóng góp tỷ lệ phù hợp từ doanh thu của mình để đẩy mạnh công tác quảng bá. Hội nghị còn thảo luận chương trình tham gia hội chợ du lịch lớn nhất thế giới được tổ chức tại thành phố Berlin vào tháng 3 năm 1999. Đây cũng là cơ hội ngành Du lịch Việt Nam khẳng định vị thế của mình hòa nhập vào thế giới, chuẩn bị cho bước đột phá của ngành bước đến giao thừa thế kỷ.
P.V-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (11(63))1999

Weimar thủ đô văn hóa của châu âu năm 1999

Nếu như năm 1998, Stockholm của Thụy Điển là Thủ đô văn hóa của châu u thì năm 1999 này, Weimar một thành phố nhỏ của Cộng hòa liên bang Đức trở thành thủ đô văn hóa của Châu u, theo cách lựa chọn hàng năm của Hội đồng Văn hóa châu âu.
Weimar, được biết đến như là thành phố của các nhà văn, các nhà soạn nhạc, các nhà thiết kế của nước Đức từ thời chiến tranh. Tổng thống Cộng hòa liên bang Đức Roman Herzog nói tại lễ khai trương công trình nâng cấp Nhà hát quốc gia Đức tại Weimar, rằng. Không thể tưởng tượng được rằng nền văn hóa Đức mà lại thiếu Weimar. Nhà hát quốc gia tại Weimar là nơi đã từng diễn ra việc tuyên bố nền cộng hòa ở Đức năm 1919. Weimar cũng là nơi đã in dấu chân của các bậc thiên tài như các nhạc sĩ Johann Sebastian Bach, Franz Liszt, các Đại thi hào Johann Wolfgang von Goeth, Friedrich Schiller… Nơi đây cũng ra đời trường thiết kế hàng đầu thế giới.Trường Bauhaus từ năm 1919. Thêm nữa, Weimar cũng được loài người ghi nhớ là nơi có một trong những trại giam khủng khiếp nhất của Đức Quốc xã trại giam Buchenwald ở ngoại ô thành phố, nơi đã có đến 56 nghìn người bị giết hại dưới thời phát xít. Trong chương trình Năm văn hóa – Thủ đô văn hóa của châu âu, Weimar sẽ tổ chức nhiều hoạt động lớn: Kỷ niệm 250 năm ngày sinh của Đại thi hào Goeth, 80 năm ngày tuyên bố nền cộng hòa và Trường Bauhaus, 10 năm ngày thống nhất Đông và Tây Đức, kết thúc gần nửa thế kỷ nước Đức bị chia cắt. Đợt kỷ niệm rầm rộ nhất sẽ diễn ra trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 7. Riêng Thi phẩm Faust của Goeth sẽ được thể hiện trên nhiều loại hình nghệ thuật như sân khấu, ballet, phim ảnh… với sự góp mặt của các nghệ sĩ lừng danh của Đức và thế giới như các nhạc trưởng, người biểu diễn âm nhạc như Daniel Barenhoim, Yehudi Menuhin, Kurt Masur, đoàn Ballet Bejart của Lausane, ban nhạc Pop Queen… Các nhà tổ chức hy vọng trong năm là Thủ đô văn hóa của châu u, Weimar có thể thu hút 5 triệu người Đức và trên khắp hành tinh đến với thành phố xinh đẹp nhưng nhỏ bé chỉ có 60 nghìn dân này ở miền Đông nước Đức.
Cho đến nay, có 9 thành phố xin đăng ký để lựa chọn là Thủ đô văn hóa của châu u năm 2000 là: Avignon – Pháp, Bergen – Na Uy, Bologna – Ý, Brussels – Bỉ, Cracow – Ba Lan, Helsinki – Phần Lan, Prague – Cộng hòa Séc, Reykjavik – Aixolen và Santiago de Compostella – Tây Ban Nha.
N.C -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm (11(63))1999.