Hội xuân Du lịch Văn hóa

Mười sự kiện tiêu biểu của ngành du lịch năm 2000, hội xuân Du lịch – Văn hóa Việt Nam năm 2000 diễn ra từ ngày 26/1 đến 2/2 tại Hà Nội, do Tổng cục Du lịch, Bộ Văn hóa – Thông tin và Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội phối hợp tổ chức. Đây là sự kiện mở đầu cho việc triển khai thực hiện nội dung tuyên truyền quảng bá du lịch và gắn hoạt động du lịch với các lễ hội văn hóa dân tộc. Tại đây, tính đa dạng phong phú của nền văn hóa truyền thống Việt Nam đã được thể hiện bằng nhiều thể loại mang đậm màu sắc đặc trưng của các dân tộc, địa phương. Đồng thời khẳng định đó là tiềm năng đặc trưng của du lịch Việt Nam.
Festival Huế 2000 diễn ra từ ngày 8 đến 19/ 4 đã thu hút hàng chục ngàn khách du lịch trong nước và quốc tế. Tổng cục Du lịch là thành viên chính của Ban tổ chức, cùng với sự tham gia trực tiếp của các đơn vị thuộc ngành du lịch Thừa – Thiên – Huế. Đây không chỉ là cuộc trình diễn quy mô lớn về nét đặc trưng của văn hóa Huế, mà còn là cuộc biểu dương những tinh hoa văn hóa dân tộc, một lễ hội văn hóa, du lịch mang tầm cỡ quốc tế. Festival Huế 2000 đồng thời là cơ hội tuyên truyền quảng bá của ngành Du lịch Việt Nam nói chung và Du lịch Thừa Thiên – huế nói riêng.
Ngày 30/ 3, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 07/ 2000/ CT – CP gửi các Bộ, ngành, các cấp chính quyền địa phương, nhằm tăng cường giữ gìn trật tự trị an và vệ sinh môi trường tại các điểm tham quan, du lịch. Quán triệt tinh thần chỉ thị các ngành, các địa phương, nhất là các địa phương có các di tích, thắng cảnh phục vụ khách du lịch tham quan, các trung tâm du lịch, các thành phố lớn… đã sắp xếp lại hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch tại địa bàn, chấn chỉnh các hoạt động sản xuất mua bán, trao đổi các mặt hàng phục vụ khách du lịch… Đã có sự phối hợp giữa các ngành, các cấp chính quyền khắc phục các tệ nạn xã hội tại các điểm, trung tâm du lịch, làm lành mạnh môi trường du lịch.
Lễ kỷ niệm 40 năm thành lập ngành Du lịch Việt Nam (9/7/1960 – 9/7/2000) được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 8 – 7. Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm, Trưởng ban chỉ đạo Nhà nước về Phát triển Du lịch đã tới dự và biểu dương những thành tựu của ngành Du lịch qua 40 năm xây dựng và trưởng thành. Nhân dịp này, Tổng cục Du lịch đã tổ chức Hội thi hướng dẫn viên Du lịch lần thứ nhất, gồm hơn 100 thí sinh từ các đơn vị, doanh nghiệp Du lịch trên cả nước tham dự; tổng kết phong trào thi đua toàn ngành năm 1999 cho 10 công ty lữ hành quốc tế và 10 khách sạn tiêu biểu trên cả nước.
Ngày 25 và 26/ 7, tại thành phố Đà Nẵng Chi hội P T Việt Nam đã tổ chức Đại hội thường niên lần thứ 6, kết thúc nhiệm kỳ 1998 – 2000. Tại Đại hội này, PATA Việt Nam đã khẳng định vai trò của mình trong việc phối hợp cùng Tổng cục Du lịch và các cơ quan liên tục thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền quảng bá du lịch, triển khai Chương trình hành động quốc gia về Du lịch. Đại hội đã bầu Ban chấp hành nhiệm kỳ mới gồm 15 thành viên, do Phó tổng cục trưởng TCDL Phạm Từ làm Chủ tịch.
Ngày 24/ 8, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 39/ 2000/ NĐ – CP về cơ sở lưu trú du lịch. Đây là văn bản pháp lý quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch, đồng thời nâng cao hiệu quả về quản lý Nhà nước đối với loại hình kinh doanh này. Nghị định này cụ thể hóa những quy định trong Pháp lệnh Du lịch về cơ sở lưu trú, tạo cơ sở pháp lý để chuẩn bị hóa chất lượng dịch vụ và ngành nghề kinh doanh.
Ngày 5 và 6/11, Đoàn cấp cao Bộ du lịch Tahis Lan do ông Adisain Bodharamik, Bộ trưởng văn phòng Thủ tướng, Chủ tịch cơ quan Du lịch quốc gia Thái Lan, dẫn đầu đã sang thăm và làm việc tại Việt Nam. Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng đã ký biên bản ghi nhớ phiên họp, mở ra nhiều vấn đề cùng quan tâm thực hiện, nhằm tăng cường hợp tác có hiệu quả về Du lịch giữa hai nước và với các nước khác trong khu vực.
Từ ngày 28/11 đến 1/12, Đoàn cấp cao Cục Du lịch quốc gia Trung Quốc do Phó Cục trưởng Tôn Cương dẫn đầu đã sang và làm việc tại Việt Nam. Phó Tổng cục trưởng Phạm Từ dẫn đầu đoàn cấp cao tổng cục du lịch Việt Nam đã tiếp và hội đàm với Đoàn. Hai bên đã thỏa thuận và ký biên bản ghi nhớ về Việt Nam – Điểm đến của công dân Trung Quốc. Bản ghi nhớ gồm 9 vấn đề liên quan tới cả hai bên, nhằm nâng cao chất lượng phục vụ công dân Trung Quốc đi du lịch Việt Nam bằng tiền riêng của mình.
Ngày 8/ 12, tại cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài. Tổng cục Du lịch và Tổng công ty Hàng không Việt Nam đã tổ chức lễ đón khách du lịch quốc tế thứ 2 triệu đến Việt Nam trong năm 2000, hoàn thành chỉ tiêu đón 2 triệu khách quốc tế của toàn ngành Du lịch trong năm 2000. Vị khách thứ 2 triệu là cô Vilard Karine, quốc tịch Pháp, đến từ Paris theo tour của Công ty du lịch Thành phố Hồ Chí Minh thuộc tổng công ty Du lịch Thành phố Du lịch Sài Gòn. Tại lễ đón, Phó Tổng cục trưởng Phạm Từ đã phát biểu, đại ý: Năm 1994, du lịch Việt Nam đón khách quốc tế thứ 1 triệu, đến năm 2000, đón khách thứ 2 triệu. Nhưng không đợi đến 6 năm, chúng ta sẽ đón khách quốc tế thứ 3 triệu, 4 triệu.
Nguyễn Chất – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Vì sao chùa Quỳnh Lâm vẫn bị lấn chiếm

Chứng tích một ngôi chùa.chùa Quỳnh Lâm thuộc thị xã Tràng An, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Vào thế kỷ thứ 7, Định Khâm Trưởng Lão người làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức, am hiểu thế số, hành động đúng phép tắc, một thuyền sư nổi tiếng thời thuộc Đường trên đường đi tu hành đã dừng chân tại đây. Trước thế đất “tiền án hậu chẩm” mảnh đất đằng trước có thế án ngữ của núi và hai con sông Cẩm và song Đạm Thủy chắn những luồn khí độc hại vào trong chùa, đằng sau có núi là điểm tựa vững chắc, hai bê là thế chầu của vật linh như Long Ly Quy Phượng, chùa lọt vào ngai cao dần, Trưởng lão đã khởi công đắp chùa. Trong lúc dựng chùa, trưởng lão đào được một bác hương và 10 chiếc khánh. Chứng tích đây là mảnh đất đã được người xưa lựa chọn căng làm cho Định Khâm tin vào sự lựa chọn địa điểm là thiên thời địa lợi hợp nhất, địa nhân hòa hợp.
Đến Triều Lý, nơi đây được xếp hạng đại danh lam. Sau khi nhà sư Dương Không Lộ chữa khỏi bệnh cho vua Lý Thần Tông , đã về trụ trì chùa Quỳnh Lâm. Tại đây, ông đã đúc pho tượng Di Lặc bằng đồng, cao 20 m. Báu vật được coi là tứ đại khí của nước ta thời ấy. Vua Lý phong ông là Thông hiển đại nhân. Đồng thời ông cũng là vị tổ sư nghề đúc đồng của Việt Nam.
Sang thời Trần, nơi đây được coi là trường đào tạo tăng tài cả nước. Khi Trần Nhân Tông đi tu ở núi Yên Tử thường lui về chùa Quỳnh Lâm thuyết giảng đọa giáo cho tăng ni phật tử. Vua Trần Anh Tông lên ngôi đã trích ngân quý 83 lạng vàng để trùng tu chùa.
Thế kỷ 17, vua Lê Huy Tông bán mũ áo cà sa cho Chân Nguyên Thiền Sư đỗ tiến sĩ xây dựng lại với quy mô lớn, tổng công 103 gian bao gồm nhà điện phật, nhà hậu Phật, nhà tăng, nhà kho, tam quan, gác chuông… đồng thời, đây là ngôi chùa mà chúa Trịnh Tráng cho xây dựng lại khi bị chiến trnh tàn phá.
Năm 1947, chùa Quỳnh Lâm bị giặt Pháp phá hủy hoàn toàn, di tích chứng cứ chỉ còn lại: tấm bia đá cao 2,46 m, rộng 1,53 m, chân cột đường kính 1,28 m, có hoa văn chạm trổ theo phong cách thời Lý, một số tháp Mộ các vị tổ sư thời Hậu Lê.
Năm 1991, Nhà nước công nhận chùa Quỳnh Lâm là di tích sử các quốc gia. Thế nhưng một di sản văn hóa quý hiếm như vậy hiện nay lại thuộc quyền sở hữu của một quốc gia đình?
Dân chiếm di tích, chính quyền làm ngơ.
Trong kháng chiến chống Pháp, khi chùa Quỳnh Lâm bị phá, nhân dân xung quanh liền chiếm diện tích đất để sản xuất. Đặc biệt là khu đất vườn tháp Tăng Thống Trúc Lâm rộng hơn 3 sào, nơi thờ các vị tổ sư đã bị một số gia đình biến thành nghĩa địa.
Năm 1994 do nhà chùa và đông đảo bà con phật tử kiến nghị, Ủy ban nhân dân huyện Đông Triều đã hỗ trợ hơn 1 triệu cho mỗi gia đình có mộ ở đó dời đi nơi khác đã trả lại đất cho di tích. Ngay sau khi khu mộ được dời đi, ông Nguyễn Văn Khoát đã chiếm được toàn bộ khu đất này để trồng trọt. Từ đó đến nay hòa thượng Thích Đạo Quang, trụ trì chùa Quỳnh Lâm, đã 6 lần gửi đơn kiến nghị tới UBND xã và huyện yêu cầu can thiệp để trả lại đất để bồi thường cho dân. Dư luận không hiểu vì sao Ủy ban nhân dân xã lại phải đền bù cho một số cá nhân lấn chiếm đất trái phép? Qua tìm hiểu, được biết Nguyễn Văn Khoát làm em vợ ông Phạm Văn Viện Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tràng An. Phải chăng, chủ tịch xã đã dung túng cho người thân ngang nhiên lấn chiếm đất di tích? Việc làm này đã gây bất bình cho nhân dân, nhất là những gia đình phải chuyển mộ để trả lại đất cho chùa Quỳnh Lâm.
Trong lá đơn gửi tòa soạn báo du lịch, trụ trì chùa Thích Đạo Quang viết: pháp nguyện của nhà chùa cũng như đông đảo bà con phật tử còn là xây dựng lại ngôi chùa để lưu truyền muôn đời cho con cháu. Nhưng chỉ vì một cá nhân mà quyền lợi bao người bị ảnh hưởng. Rất mong quý báo lên tiếng ủng hộ để công việc được giải quyết tốt đẹp trong nhiệm kỳ mới của chính quyền xã.
Thế nhưng, đã gần 2 năm của nhiệm kỳ mới rồi mà Ủy ban nhân dân xã vẫn bất lực trước hiện tượng cá nhân lấn chiếm đất di tích. Phải chăng đây là sự thờ ơ của các vị lãnh đạo địa phương đối với việc bảo tồn giá trị văn hóa của quốc gia hay là do những lý do tế nhị nào đó. Đã đến lúc các cấp chính quyền của tỉnh Quảng Ninh phải xem xét lại cách quản lý của mình về việc làm đi ngược lòng người và chủ trương bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc.
Một ngôi chùa được xây dựng vào thế kỷ thứ 7, được xếp vào hạng danh lam thắng cảnh nổi tiếng, được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia lại bị một hộ dân lấn chiếm mà chính quyền xã không xử lý được. Đâu là nguyên nhân của sự bất lực này.
Kính báo Kể từ ngày 10.6.2001, báo du lịch chuyển địa điểm về 16 A Nguyễn Công Trứ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Mọi thư từ, bài vở, giao dịch theo địa chỉ mới. Riêng các số điện thoại, FAX thay đổi sẽ thông báo sau.
Phương Thúy – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Chị lương lệ quân

(Khách du lịch Trung Quốc)
Đoàn của chị có vẻ đông nhỉ!
Các chị đi theo Công ty nào vậy?
Đoàn của tôi gồm có 46 khách du lịch, đi theo Công ty Du lịch Đông Hưng của tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc đến Móng Cái, Quảng Ninh và Hà Nội.
Theo tôi biết, hàng hóa tiêu dùng của Trung Quốc giá rất rẻ, đồ ăn và lưu niệm cũng phong phú. Vậy các chị sẽ mua mặt hàng gì của Việt Nam để làm quà và đặc biệt là chị thích loại hàng gì?
Người Trung Quốc, và đặc biệt những người sống ở các tỉnh vùng biển chúng tôi thường thích mua vòng ngọc, nước hoa của các bạn có nhiều ở Bãi Cháy, Hòn Gai (Quảng Ninh). Ngoài ra là các loại giầy dép cao su, bánh đậu xanh, rượu Henesy và tượng phật gỗ, lược sừng vì bên Trung Quốc loại này rất đắt. Nhưng đặc biệt, chúng tôi rất thích sưu tầm tem của Việt Nam. Mặt hàng này cũng có sẵn ở Móng Cái. Mỗi người trong đoàn đều mua từ 1 – 2 tập. Giá khoảng 120 tệ, có người mặc cả xuống 100 tệ.
Loại tem nào được các chị chú ý hơn?
Tập tem cài 209 con tem rất đa dạng, chuyên đề về các con giống, như khủng long, ngựa vằn, hà mã, voi, khỉ lông vàng, sóc, rắn, kim tê, rùa, ếch, mèo, chó, bướm và các loại chim. Ngoài ra, còn có các tem đề tài về các loại hoa hồng, hoa đỗ quyên, thuyền buồm, các loại đá quy, tranh sơn dầu về các nhân vật nổi tiếng… Lại còn có 4 tờ tem và 2 bộ 24 con tem về 12 con giáp. Tem của Việt Nam in rất tinh tế, đẹp, có điều giấy in chất lượng hơi kém.
Bên Trung Quốc ít bán tem sao? Hay là giá đắt quá?
Không hiểu sao ở Đông Hưng chúng tôi không thấy bán tem. Ngay cả ở thành phố du lịch như Quế Lâm, ở các cửa hàng văn hóa phẩm hay khách sạn cũng không thấy bán tem chơi Trung Quốc. Đây cũng có thể là một cơ hội cho các bạn nên phát triển loại hàng này. Thị xã Móng Cái và Bưu điện Quảng Ninh của các bạn rất nhạy bén. Nếu như Công ty Tem và Hội Tem Việt Nam biết đầu tư và tạo điều kiện cho tất cả các vùng du lịch trong nước, đặc biệt là các tỉnh vùng biên thì đây chính là một nguồn hàng thu lợi không nhỏ.
Xin cảm ơn chị.
Thị xã sầm sơn triển khai kế hoạch tổ chức hoạt động du lịch
Để việc tổ chức hoạt động du lịch hè 2001 được tốt, Ủy ban nhân dân thị xã Sầm Sơn đã triển khai các chương trình cụ thể: Tăng cường công tác qui hoạch – xây dựng, hoàn thiện qui hoạch hàng quán kinh doanh, xử lý các hộ xây dựng sai qui hoạch; Đẩy mạnh tuyên truyền quảng cáo và tổ chức hoạt động văn hóa – thể thao suốt mùa du lịch, giới thiệu tiềm năng du lịch Sầm Sơn. Vấn đề an ninh trật tự, bảo hiểm tắm biển và vệ sinh môi trường được chú trọng.
Đặc biệt, Ủy ban nhân dân thị xã còn ban hành quy định cụ thể: Các mặt hàng kinh doanh phải niêm yết theo giá khung, giá trần đã được Ủy ban nhân dân thị xã quy định, không được bán hàng rong tại bãi biển, không bán vé du lịch tại khu di tích đền Độc Cước, hòn Trống Mái, chùa Cô Tiên từ 30/4 đến 30/9/2001; Nghiêm cấm việc rút thẻ, bán thẻ, xem bói, nài ép du khách…
Khách du lịch đến sầm sơn hè 2001 cần biết?
Vé bảo hiểm du lịch có 2 loại: 10.000 đồng/người đối với khách nghỉ lại (thu tại khách sạn, nhà nghỉ) và 2.000 đồng/người đối với khách không nghỉ lại.
Khách du lịch không phải mua vé du lịch tại các khu di tích ở Sầm Sơn (như đền Độc Cước, chùa Cô Tiên) từ 30/4 – 30/9/2001.
Khách chỉ trả tiền theo đúng giá niêm yết đã được Ủy ban nhân dân thị xã Sầm Sơn quy định khung giá trần như:
Giá ảnh: 5.000 đồng/kiểu 9×15.
Giá thuê ghế: 2.000 đồng/giờ (ghế đôi) 1.000 đồng/giờ (ghế một).
(Chỉ khách thuê ngồi nghỉ, nếu sử dụng dịch vụ như ăn, uống thì không phải trả tiền ghế).
Giá thuê phao bơi: 2.000 đồng/giờ.
Tắm nước ngọt: 2.000 đồng/lượt khách.
Giá giữ xe: 10.000 đồng/xe ô tô; 2.000 đồng/xe máy.
Giá đồ uống: 2.000 đồng/1 cốc nước dừa. 3.000 đồng/ly cà phê, 7.000 đồng/lon Halida, 10.000 đồng/chai bia tiger…
Khu vực Hòn Trống Mái và chùa Cô Tiên các điểm đỗ xe ôtô chỉ phải trả tiền vé 1 lần (15.000 đồng/vé).
Thông qua lộ trình giảm giá đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Sáng ngày 3/5/2001, Ban Vật giá Chính phủ làm việc với một số ngành: Bưu chính – Viễn thông, Điện lực, Hàng không… để thông qua lộ trình giảm giá đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, giai đoạn 2001 – 2005.
Theo đó, năm 2001, ngành bưu điện sẽ giảm 15% giá cước viễn thông quốc tế chiều gọi đi từ Việt Nam; ngành điện lực sẽ tăng giá điện sinh hoạt và sản xuất lên 700 đồng/KV/h nhưng chỉ áp dụng đối với người tiêu dùng trong nước, nhằm tạo mặt bằng chung với các doanh nghiệp nước ngoài; ngành hàng không sẽ tăng giá vé máy bay đi Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh lên 1.300.000 đ/chuyến (một chiều) trong tháng 5/2001 và đến năm 2003 sẽ là 1.500.000 đồng/chuyến.
Bản lộ trình này cũng sẽ được các bộ, ngành xem xét, sau đó sẽ trình lên Chính phủ. Nếu được Chính phủ thông qua thì đây sẽ là một bước đột phá mới nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có vốn nước ngoài đang làm ăn tại Việt Nam.
Thúy Bình – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 19(181)2001

Tìm của ra cho nước quả Việt Nam

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hiền Bộ môn rau quả – Viện nghiên cứu rau quả, Bộ VV&PT – NT, nói với chúng tô: “Ở Mát – xcơ – va (Nga), một lít nước quả giá khoảng 1 USD, còn ở Việt Nam thì giá cao hơn nhiều”. Giảm giá thành là bài toán mà ngành chế biến nước quả luộc phải giải khi tìm cửa ra cho sản phẩm nước mình.
Ngành sản xuất khó tính.
Theo bà Hiền, hoa quả của Việt Nam có chất lượng tốt ở cả hai yếu tố màu sắc và hương vị, nhất là quả miền Bắc. Tuy nhiên, đây là một ngành sản xuất đòihỏi khắc khe về công nghệ vì sản phẩm này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, thậm chí mạng của người tiêu dùng. Những công nghệ tầm tầm không thể cho ra những sản phẩm đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép. Làm thủ công lại càng không chấp nhận được.
Một điều khó nữa là vấn đề bao bì; phải gọn nhẹ, không độc, không gây hại đến môi trường. Sản xuất bap bì bằng hợp kim, giá thành sẽ rất cao. Chất liệu thủy tinh cũng không phù hợp vì đặc điểm của nước quả có hai thành phần: Phần thịt và phần nước quả. Đựng bằng chai thủy tinh có thể gây biến màu đối với một số loại quả, đồng thời cũng không đảm bảo về phần mỹ thuật. Giải pháp tối ưu hiện nay là sử dụng loại hộp giấy dung được trong khoảng thời gian từ 6- 9 tháng. Tuy nhiên, công nghệ này cũng mới có ở một ít cơ sở như Vinamilk, Dona Newtown, Wonderfarm…
Chất lượng quả không đều mấy cũng là nguyên nhân đẩy gí thành nước quả lên cao. Ví dụ, quả cam đạt tiêu chuẩn bảo đảm ít xơ, hàm lượng đường. Nhưng khí ít chất lượng trái cây không đồng đều, cụ thể như về lượng đường thiếu, nhà sản xuất buộc phải bổ sung thêm đường kính.
Một nghịch lý đang tồn tại: chất lượng và thấp nhưng nguyên liệu đầu vào để sản xuất nước hoa quả ở Việt Nam lại đắt hơn các nước trong vùng. Một kg dứa nguyên liệu ở Thái Lan giá tương đường 400 VNĐ trong khi đó ở Việt Nam lại đắt gấp 3 lần! Đây chính là cái vòng luẩn quẩn trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta: năng suất thấp, chi phí cao, do vậy nông dân muốn bán sản phẩm của mình với giá càng cao càng tốt, nhằm bù đắp chi phí bỏ ra. Kết quả là cả hai bên cả bên sản xuất nguyên liệu lẫn bên chế biến đều ôm chân nhau. Sản phẩm làm ra không tiêu thụ được vì giá thành cộng thêm nhiều gánh nặng khác như chi phí vận chuyển, thuế… Giá cao hơn hàng ngoại mà chất lượng chưa chắc đã hơn thì đừng vội nói đến xuất khẩu, ngay cả thị trường trong nước với 80 triệu dân một con số không hề nhỏ, nhưng 2/3 là nông dân, có thu nhập thấp, rõ ràng uống nước lã đun sôi vẫn chưa chết ai.
Giảm giá thành cửa ra duy nhất?
Theo ông Nguyễn Công Hoan, Trưởng bộ môn Chế biến thực phẩm viện công nghệ sau thu hoạch – Bộ NN&PT – NT, giải pháp quan trọng nhất là phải bằng mọi cách hạ giá thành sản phẩm. Hiện nay, một số nhà máy, máy móc từ những năm 60 vẫn đang được sử dụng. Công nghệ hiện đại chỉ có ở một số ít công ty như Liên doanh Dona Newtown giữa nhà máy thực phẩm xuất khẩu Đồng Nai với Hồng Kông), Wonderfarm, A&B… Tuy nhiên, Ông Nguyễn Công Hoan cho rằng, công nghệ trong nước có thể thay thế dây chuyền ngoại nhập, chất lượng sản phẩm không thua kém mà giá thành rẻ hơn nhiều. Bên cạnh đó các cơ sở chế biến cần tăng cường ký hợp đồng trực tiếp với nhà vườn nhằm giảm bớt chi phí trung gian vàt ạo thuận lợi trong việc kiểm soát chất lượng quả cây. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở chế biến và địa phương nhằm chủ động quy hoạch vùng nhiên liệu, nâng cao chất lượng giống, áp dụng những kỹ thuật canh tác tiên tiến vào sản xuất.
Với một thị trường quốc nội 80 triệu dân, lại khá phong phú về nguyên liệu mà ngành sản xuất nước quả vẫn mãi xập xệ thì quả là điều khó chấp nhận.
Những phát hiện và phát minh của loài người từ năm 1920 đến năm 1949
Năm 1920: ở nước Anh và Hoa Kỳ đã lập các trạm phát sóng radio và các gia đình có máy thu có thể bắt được dễ dàng lời nói của các phát thanh viên. Năm 1921 nước Pháp tổ chức truyền một buổi dạ hội ca nhạc phát đi từ tháp Ép – fen.
Năm 1920 các máy lạnh máy sấy tóc, máy trộn thức ăn gia súc ra đời.
Năm 1921: Tomat Mitglay có sáng kiến pha chì vào xăng và mãi tới ngày nay người ta mới phát hiện thấy hiện tượng ô nhiễm môi trường do sáng kiến này gây ra.
Năm 1923: ra đời chiếc máy thu thanh chạy đèn và có tăng loa kèn.
Năm 1927: lần đầu tiên xuất hiện phim lồng tiếng.
Năm 1930: ra đời trạm truyền hình vào những năm của thập kỷ 30 nhờ sự phát minh của Camera điện tử.
Năm 1935: máy rađa đầu tiên ra đời. Máy có thể dò tìm thấy các máy bay, phát hiện các tàu thủy ở bất cứ thời tiết nào kể cả ban ngày lẫn ban đêm. Năm 1939: nước Anh có một hệ thống rađa rất lợi hại để phát hiện ra kẻ thù.
Công nghệ chất dẻo cũng phát triển vào những năm của thập kỷ 30. Sợi nilông ttổng hợp được sáng chế voà năm 1931 và vải nilông thay cho lụa thiên nhiên.
Năm 1941: động cơ phản lực ra đời. Máy bay phản lực có tốc độ nhanh hơn nhiều lần so với máy bay cánh quạt.
Năm 1938: bút bi xuất hiện và ngày nay loại bút này được sử dụng trên toàn thế giới.
Năm 1939: chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra vào thánh 9. Những tiến bộ khoa học được sử dụng vào chiến tranh đã gây nên những thiệt hại vô cùng to lớn về người và của. Vũ khí huỷ diệt hàng loạt xuất hiện.
Năm 1941: tên lửa V2 của phát xít Đức tấn công vào thủ đô Luân Đôn của Anh.
Năm 1945: hai quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống thành phố của Nhật Bản.
Năm 1946: chiếc máy phát điện ra đời nặng tới 30 tán và phải dung tới hai phòng rộng mới chứa máy hết. Ngày nay nhờ có công nghệ vi mạch những chiếc máy điện toán được thu nhỏ lại như máy vi tính… với trọng lượng dưới 10 kg.
Hạ Hoà – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 221 (186) 2001

Những vùng đất nguy hiểm ven sông

Khúc sông bên lở bên bồi
Đất ven sông bị lở là do một số hiện tượng tự nhiên và thường xảy ra ở mọi con sông. Có thể kể ra một số ví dụ: sông Mitsisipi (Hoa Kỳ) đã biết bao lần lở bờ, cuốn trôi theo nhiều làng mạc, đồn điền, thành phố, bến lầu. Hiện tượng lở ở bờ sông Hồng là nguyên nhân khiến cho thương cảng Phố Hiến vốn phồn vinh từ cuối thế kỷ 16 – đến đầu thế kỷ 18, đến nay bị xóa sạch, hầu như không còn vết tích, trong khi đó cùng thời là thương cảng Hội An nây vẫn tồn tại. Ở miền Trung nước ta, sông Lam chảy qua Nghệ An đã phá hủy hết thành quách Bình Ngô do Lê Lợi xây dựng vào đầu thế kỷ thứ 15. Thành Tương Dương hay còn gọi là Nam Sơn ở huyện Nam Đàn cũng bị sông Lam phá hủy gần hết, nay chỉ còn ít bia đá và vài đoạn thành cổ.
Đặc biệt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, nạn lở đất ở hai bên bờ sông Tiền, sông Hậu liên tục xảy ra gây thiệt hại nặng nề về người và của. Cách đây vài năm, bến phà Hậu Giang đã bị xóa sổ hoàn toàn do nạn sụt lở đất. Ngày 4-2-1992, hồi 9 giờ sáng, một nạn sụt lỡ đất rông tới 500 mét vuông trên đó có tòa nhà cao tầng của Hội đồng nhân dân huyện Hồng Ngự (Đồng Tháp) bị kéo xuống dòng nước sâu 45m. Hiện tượng xảy ra trong khoảng khắc khiến 6 cán bộ trong đó có ông Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân bị thiệt mạng. Cùng thời gian này, bên hữu ngạn sông Tiền, chợ Tân Châu thuộc tỉnh An Giang cũng bị lở dần qua mỗi mùa lũ và đến nay chợ Tân Châu bị vùi xuống lòng sông, không còn một vết tích. Có thể kể thêm: vài năm trước, ta trục vớt được ở thành phố Hồ Chí Minh hơn 10 khẩu đại bác hạng nặng của Pháp bị lở đất bất ngờ lăn xuống sông từ cuối thế kỷ 19.
Trong vài thập kỷ trở lại đây, hiện tượng sụt lở đất ven sông có xu hướng gia tăng do hiện tượng phá rừng ngày càng trầm trọng. Trên các đỉnh núi và sườn núi mất rừng, nước mưa nhanh chóng tập trung thành lũ lớn và có sức tàn phá hoạt động làm sụt lở lớn hơn khi lưu vực còn rừng che phủ.
Tuy nhiên, không phải cứ vùng đất nào cũng bị sụt lở. Trong thực tế ở một khác sông thì đối diện với bờ lở là bờ được bòi. Vì vậy mà từ lâu đời, nhân dân ta đã đúc kết thành quy luật “Khúc sông bên lở bên bồi”.
Đâu là vùng đất nguy hiểm bên sông?
Quy luật khúc sông bên lở bên bồi được sinh ra trong sự hoạt động của các khúc uốn lòng sông. Sông uốn khúc là một hiện tượng tự nhiên. Ngay ở những con sông đào, lúc đào thẳng, nhưng về sau nó vẫn uốn khúc. Các nhà khoa học đã giải thích về nguyên nhân uốn khúc của dòng sông là do sự tự quay của trái đất và từ khi sinh ra lực Coriôlít. Lực này làm cho các dòng khí, dòng nước khi lưu chuyển bị lệch hướng về bên phải ở Bắc bán cầu và lệch sang trái ở Nam bán cầu. Tuy nhiên khúc uốn dòng sông lại phát triển theo những quy luật riêng của nó. Lòng sông rộng 30 m thì bán kính khúc uốn có thể gấp 16 lần lòng sông. Sông càng rộng thì tỷ lệ đó càng thu hẹp. Sông càng rộng đến 300 m thì tỷ lệ đó là 12 lần. Khoảng đất giữa ở hai bề tuyến với bờ lõm (bờ lở) của sông gọi là lòng của khúc uốn. Khoảng đất này nằm trong phạm vi hoạt động của khúc uốn và coi là những vùng đất nguy hiểm ven sông. Các đô thị, bến cảng, thành quách, làng mạc xây dựng trong phạm vi lòng khúc uốn thì trước sau sẽ bị dòng nước cuốn đi theo quy luật.
Ninh Nguyên thẩm mỹ viện đón chào thiên niên kỷ mới.
106 phố Sơn Tây – quận Ba Đình – Hà Nội
Tel: 7334600 – Mobiphone: 090448727
Lần đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam đã có thẩm mỹ làm đẹp bằng các bài thuốc thảo dược cổ phần Trung Hoa từ xa xưa đó là:
Ninh Nguyên thẩm mỹ viện
Chuyên thay da: nám, tàn nhang, trứng cá, da đen, da lão hoá, khít lỗ chân long, tái tạo làng da mới trắng hồng trong 10 ngày hiệu quả hơn cả sự mong đợi và giữ được lâu bền mãi bằng bài thảo dựơc cổ truyền Trung Hoa không dung hoá chất, vệ sinh an toàn tuyệt đối.
Massage mặt: trị mụn cám, mụn bọc, mụn thâm bằng phương pháp lăn ống tre, đắp Maks đặc biệt làm da trắng mịn ngay sau 90 phút.
Đặc biệt chống nhăn: Mắt, trán… tâm quàng mắt, túi mỡ mí mắt, kết quả thấy sau lần đầu (1 liệu trình 10 ngày). Bạn sẽ thấy ngạc nhiên về độ láng mịn của làng da quanh mắt, màu da sáng trẻ lại và dồi dào sức sống.
Massage vi tính chỉnh hình toàn thân: Làm bụng nhỏ bằng bài thuốc dân gian sau 10 lần giảm 7 ngày 15 cm. Làm ngực nở, eo thon, đùi thon, cằm, vai giảm mập, bắp tay suôn, nâng mông cao.
Triệt long: vĩnh viễn, làm dài lông mi, lông mày, tẩy sẹo lỗi lõm, ve mắt, tổ đỉa, hạt cơm, xóa nốt ruồi, trị nấm, trị lang ben, u nang lông, u gai, u mỡ…
Tắm trắng cao cấp: bằng phương phắp ướp mật tinh hoa thiên nhiên, hiệu quả – trắng mịn, không ăn nắng, không ngứa. Chỉ một lần da đã trắng ngay
Massage chân: giảm bớt đau mỏi cho lưng, chân, khớp, hôi chân, phong thấp, cân bằng nội tiết, thúc đẩy hoàn cầu máu và quá trình TĐC. Đặc biệt tỉnh rượu ngay với người đang say.
Đặc biệt giảm giá không cần uống thuốc gầy (thuốc ốm).
Ninh Nguyên thẩm mỹ viện với nhiều năm kinh nghiệm tích lữ từ CHLB Đức và Trung Hoa sẽ giúp khách hàng hài lòng yên tâm làm đẹp cho bạn và mọi người.
Trẻ hơn – đẹp hơn – quý phái hơn.
Lê Vân – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Hành trình xuyên việt “trở về con đường huyền thoại”

Đó là hành trình du lịch dài gần 6.000 km, đưa du khách trở lại với nhiều tuyến, điểm của đường mòn Hồ Chí Minh, do Công ty Thương mại Du lịch Thanh niên Hà Nội tổ chức. Du khách tham gia hành trình đặc biệt này là những cựu cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng thanh niên xung phong từng tham gia mở đường Trường Sơn năm xưa, hoặc đã từng chiến đấu, phục vụ chiến đấu trên con đường này.
Chuyến đi dự kiến sẽ xuất phát vào ngày 19/5/2001 tại Hà Nội. Trong thời gian 15 ngày, đêm, đoàn sẽ di chuyển dọc theo Quốc lộ 1 (điểm cuối là Thành phố Hồ Chí Minh) thăm các danh lam thắng cảnh của đất nước rồi đến với đường mòn Hồ Chí Minh. Tại các điểm dừng, du khách sẽ có những buổi gặp gỡ, giao lưu với các cựu cán bộ, chiến sĩ thanh niên xung phong địa phương và lực lượng đang xây dựng đường Hồ Chí Minh hiện nay.
Tin vắn
Trong các ngày từ 4 đến 11/4/2001, tại Malaysia, đại diện ngành Du lịch Việt Nam đã tham dự phiên họp nhóm công tác du lịch lần thứ 18 và diễn đàn APEC (diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương). Phiên họp tập trung thảo luận tiến độ triển khai kế hoạch hành động trong APEC, theo tinh thần 4 mục tiêu về chính sách của Hiến chương du lịch APEC đã được thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng Du lịch APEC tại Seoul tháng 7/2000; rà soát kế hoạch hành động riêng lẻ của các thành viên; dự báo triển vọng phát triển du lịch khu vực.
Đoàn Việt Nam còn tham gia hội thảo du lịch với chủ đề: “Tăng cường hợp tác xúc tiến du lịch APEC”; tranh thủ gặp gỡ, tiếp xúc với đại diện các cơ quan du lịch quốc gia như Brunei, Australia, New Zealand, Singapore và Thái Lan để tìm hiểu khả năng hợp tác và tăng cường mối quan hệ song phương.
Trong hai ngày 16 và 17/5/2001, tại Hà Nội, Việt Nam sẽ đăng cai phiên họp lần thứ 4 nhóm Công tác đặc biệt ASEAN về đàm phán thương mại dịch vụ du lịch.
Phiên họp sẽ bàn một số nội dung liên quan đến lịch trình cam kết dịch vụ du lịch của các nước thành viên, chương trình hợp tác, hướng tự do hóa thương mại du lịch, trao đổi kinh nghiệm, rà soát tiến trình thực hiện chương trình hành động Hà Nội… Tham dự phiên họp sẽ có đại diện (nhóm công tác) của 10 nước thành viên và Ban thư ký ASEAN. Thái Lan là Chủ tịch đương nhiệm của nhóm công tác sẽ chủ tọa phiên họp.
Năm 2001, khách du lịch Israel đến Việt Nam sẽ tăng gấp 3 lần so với năm 2000. Đó là con số mong đợi của Đại sứ Israel tại Việt Nam Walid Mansour. Ông cho biết, năm 2000 có 1.080 khách du lịch Israel đến thăm Việt Nam. Con số đó rất nhỏ so với lượng khách đến từ các quốc gia khác. Nguyên nhân chủ yếu do những thông tin giới thiệu về đất nước, con người Việt Nam tại Israel hiện nay còn đang rất thiếu, nhất là những thông tin về cơ sở vật chất, khả năng dịch của Du lịch Việt Nam. Vấn đề này sẽ được khắc phục khi thiết lập được những cơ quan đại diện của Việt Nam tại Israel để thực hiện công tác tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch. Đại xứ W.Mansour hy vọng năm 2001 có khoảng 5.000 đến 7.000 người Israel sang thăm Việt Nam.
Ngày 20/4/2001 tại Hà Nội, Câu lạc bộ Văn hóa ẩm thực Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học “Ẩm thực Việt Nam và vấn đề chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp”. Hội thảo đã đề cập đến một số nội dung: những sản phẩm nông nghiệp đặc sắc và có giá trị trong ẩm thực Việt Nam; văn hóa ẩm thực Việt Nam là một động lực phát triển du lịch; khả năng; khả năng sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm ẩm thực từ nông nghiệp truyền thống Việt Nam tại thị trường trong nước và trên thế giới.
Được sự giúp đỡ của Tổng cục Du lịch Việt Nam, Sở Thương mại – Du lịch, Sở Văn hóa – Thông tin Hưng Yên và Ủy ban nhân dân huyện Khoái Châu sẽ tổ chức Hội thảo Du lịch Hưng Yên vào cuối tháng 5/2001. Hội thảo tập trung vào 3 vấn đề: “Du lịch Hưng Yên với lễ hội Chử Đồng Tử – Tiên Dung”; “Du lịch sinh thái ven đô trên địa bàn Khoái Châu, Vân Giang – tỉnh Hưng Yên” và “Du lịch sông Hồng thăm quan các di tích lịch sử văn hóa”.
Nhằm giải quyết những bức xúc lâu nay đối với những người làm du lịch, Thừa Thiên – Huế đã quan tâm giải quyết vấn đề người bán hàng đeo bám khách du lịch. Qua đợt 1 của chiến dịch truy quét, các cơ quan chức năng đã gom 45 đối tượng bán hàng rong, chuyên đeo bám làm phiền hà du khách tại Lăng Minh Mạng, Đại Nội, Lăng Tự Đức, Khải Định, Chùa Thiên Mụ, ga Huế, các trục đường chính như Lê Lợi, Trần Hưng Đạo… Các đối tượng đã được đưa vào Trung tâm bảo trợ xã hội hoặc trả về địa phương (các đối tượng ngoài tỉnh). Việc truy quét tiếp tục thực hiện trong thời gian tới nhằm góp phần làm trong sạch môi trường du lịch Huế.
Nguyễn Vân – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Quỳ châu vùng đá đỏ

Không phải chỉ hơn 10 năm qua ta mới biết tới các mỏ đá quý hồng ngọc ở Quỳ Châu, Quỳ Hợp (Nghệ An) và ở Lục Yên, Yên Bình (Yên Bái) mà ông cha ta đã biết từ lâu, từ ngày có địa danh Quỳ Châu (Quỳ Châu là ngọc đỏ) và từng khai thác các mỏ đá quý làm đồ trang sức cho các vua quan, làm vật cống hiến cho bọn phong kiến phương Bắc.
Trên thế giới, người Ai Cập, người Babilon và một số các dân tộc ở Trung Đông đã biết sử dụng các đá quý từ 4, 5000 năm trước đây. Thời đó, các đá quý hiếm không những chỉ làm đồ trang sức cho phái đẹp mà còn được coi là bảo vật chống lại các bệnh tật và có tác dụng nhiều mặt tới cuộc sống con người. Ví dụ: đá nhỏ (Rubi – Hồng Ngọc) có tác dụng giúp vết thương chống lành giữ gìn tâm hồn trong sạch, còn đá Ngọc Bích (Jade) có khả năng chống huyết áp cao đối với người cao tuổi. Ngọc trai chữa bệnh mất ngủ…
Rubi là một loại ngọc đắt tiền. Trên thị trường quốc tế có những viên hồng ngọc đắt gấp hàng trăm, nghìn lần so với vàng cùng một trọng lượng. Năm 1988, Mianma bán một viên hồng ngọc nặng 15,97 cara với giá 3.630.000 USD. Nước ta cũng đã bán đấu giá một viên hồng ngọc nặng 56 cara với giá 562.000 USD (1 cara = 0,2 gam). Trong dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long, ta đã tổ chức triển lãm 2 viên ngọc đỏ thuộc loại quý hiếm trên thế giới, viên thứ nhất nặng 2.160 gam, viên này trong suốt, màu đỏ đồng nhất, giá 10 triệu USD, viên thứ hai nặng 1.960 gam, có giá khoảng 5 triệu USD.
Vậy hồng ngọc là gì? Tại sao nó lại quý đến như vậy? Chắc các bạn hết sức ngạc nhiên khi thấy hồng ngọc (ruby) chỉ là Ôxýt Nhôm (Al2O3) có pha trộn một phần với Ôxýt Crôm này tạo nên màu đỏ của ngọc và càng nhiều Cr2O3 thì ngọc càng đỏ. Nếu quá trình tạo ngọc mà Cr2O3 được thay thế bằng Fe2, Fe3 và Titan thì viên ngọc lại có màu xanh và có tên là Xa-phia có gốc là Ôxýt Nhôm còn màu xanh hay đỏ là do các tạp chất Crôm, Sắt, Titan lẫn vào.
Trong thiên nhiên, các đá đỏ và các loại đá quý hiếm khác. Thường được sinh ra ở trong lòng đất ở độ sâu trên dưới 10 km cùng với những phản ứng hóa học và vật lý rất phức tạp. Các mỏ đá quý cũng thường tập trung ở những miền nham thạch cổ có tuổi trên dưới một tỷ năm hoặc hơn nữa. Các mỏ đá đỏ ở Quỳ Châu, Quỳ Hợp… cũng được sinh ra theo quy luật trên và ở những vùng đá có tuổi nguyên sinh (pt) trên 1.000 triệu năm.
Trong thiên nhiên có rất nhiều loại hồng ngọc. Ví dụ: nhóm hồng ngọc Granat có nhiều loại như loại màu đỏ tựa hoa lựu, loại màu đỏ tím, màu đỏ nâu…
Hồng ngọc cũng như các ngọc khác đều được sinh ra trong các vỉa đá và tạo thành các ổ ngọc, trong các tầng đá cổ: đá biến chất, đá kết tinh, đá xâm nhập núi lửa… Về sau do vận động kiến tạo, các nham thạch nằm sâu cũng dần dần nhô lên khỏi mặt đất. Sau đó các tầng đất đá có chứa ngọc bị nước chảy xói mòn, cuốn trôi, tạo nên các vùng sa khoáng, trong đó có lẫn các hạt ngọc được nước chảy mang đi cùng với cát, sỏi, frisa… Người ta khai thác hồng ngọc trong các lớp phù sa cổ và hiện đại dọc theo các thung lũng nằm giữa các triển núi. Vì độ cứng các hạt ngọc lớn nên chúng không bị phong hóa như các viên đá khác. Như vậy kể từ khi mới hình thành cho đến nay, tuổi của mỗi viên ngọc thường từ vài trăm triệu năm, thậm chí hàng tỷ năm.
Nguyễn Lê Vân – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Dịch vụ ngoại, giá nội

Có lẽ 4 năm trước, chị Nguyễn Phương Mai không thể không nghĩ một lúc nào đó, chị sẽ trở thành khách hàng của bệnh viện quốc tế Việt Nam. Đơn giản là thu nhập một tháng của phóng viên truyền hình như chị không đủ trang trải cho một ngày viện phí ở bệnh viện nổi tiếng đắt đỏ này. Nhưng mọi thứ đã thay đổi. Chị Mai mới đăng ký dịch vụ sinh nở trọn gói ở đây. Giải thích về sự lựa chọn của mình, chị cho biết: “Mình chọn bệnh viện này vì ở đây, con mình sẽ được hưởng những gì tốt nhất, và ở một mức giá chịu được”
Để được chữ “chịu” của những người như chị Mai, cũng là cái đích mà bệnh viện Việt – Pháp hướng đến nhằm khẳng định vị thế của mình ở thị trường nội địa, ban lãnh đạo đã đi những bước rất táo bạo trong việc giảm giá dịch vụ.
Trong bốn năm hoạt động, bệnh viện Việt – Pháp đã năm lần hạ giá dịch vụ để thu hút bệnh nhân. Đơn cử như phí khám bệnh giảm từ 97 USD xuống 60 USD, hạ tiếp xuống 42 USD rồi 35 USD trước khi đạt đến mức 15 USD như hiện nay. “Chính sách giảm giá được áp dụng không chỉ những bệnh nhân nước ngoài đăng ký khám chữa bệnh thường xuyên mà còn cả với khách du lịch vãng lai, và giá cũng chỉ tương với giá cho người Việt” Ông Võ Văn Bản, Phó giám đốc bệnh viện, cho biết.
Những thay đổi này ban đầu có vẻ như là một sự “lạc nhịp” nhưng rất nhanh, nó đã chứng minh hiệu quả của mình. Số bệnh nhân người Việt Nam và người nước ngoài đều đã tăng lên đáng kể. So với cùng kỳ năm trước, số bệnh nhân ở đây đã tăng lên 2,3 lần. Trong đó bệnh nhân nước ngoài tăng 1,2 lần, bệnh nhân người Việt tăng 3,9 lần. Hiện nay, nếu không tính các ca cấp cứu thì bệnh nhân người Việt chiếm tới 70% lượng khách của bệnh viện, người Pháp chiếm 6,5%.
Song song với những bước đi mạnh dạn trong việc giảm giá để thu hút khách hàng, bệnh viện Việt – Pháp cũng đã rất nhiều sáng kiến để nâng cao chất lượng dịch vụ của mình. Dựa vào thế mạnh về cơ sở vật chất với gồm 20 chuyên khoa, tất cả đều được trang bị máy móc thiết bị hiện đại và một đội ngũ bác sĩ, y ta nhiệt tình, giàu kinh nghiệm, bệnh viện đã đi tiên phong trong việc đưa ra các loại hình thức dịch vụ y tế trọn gói ở Việt Nam. Các dịch vụ này không những tiết kiệm được thời gian cho người bệnh mà đảm bảo cho họ một chế độ theo dõi điều trị hợp lý và hiệu quả nhất.
Kết quả là ngay cả những bệnh nhân người Nhật, nổi tiếng khó tính, cũng thấy hài lòng về bệnh viện. Hiện nay số bệnh nhân người Nhật đông đứng thứ 3 ở đây, chiếm 3,9% . Những vị khách châu u thì cảm thấy đến đây chữa bệnh như được ở chính nước mình vậy. Còn với bệnh nhân người Việt, tuy cho rằng viện phí vẫn còn cao, nhưng ai kêu ca về chất lượng dịch vụ cả.
Chị Huỳnh Thị Mai Dung, công tác viên Viện thiết kế, Bộ Công nghiệp, trong khi chờ cho con tiêm chủng, nói: “Chất lượng phục vụ ở bệnh viện này thì miễn chế và chất lượng thuốc cũng rất tốt. Tôi vẫn biết tiêm chủng các nơi khác trẻ hơn nhưng không yên tâm lắm”. Chị M. K (xin được giấu tên) cho biết: “Sự ân cần của các bác sĩ, y tá ở đây khiến tinh thần kinh chúng tôi không bị căng như vào các bệnh viện khác”. Chị K đã sinh đứa con đầu lòng ở đây và được dạy rất chu đáo về tài sản, hậu sản và chăm sóc em bé. Hiện con chị đã được sáu tháng tuổi. “Mặc dù giá dịch vụ có cao nhưng tôi vẫn thích đẻ ở bệnh viện này, nếu đẻ cháu thứ hai tôi vẫn vào đây”, chị nói.
Chị N.T.S tâm sự chân thành: “Tôi đẻ khó, thai yếu, lại bẩn ối, nếu không được bác sĩ can thiệp kịp thời thì mẹ con tôi khó qua khỏi. Nên dù dịch vụ bệnh viện này khá cao nhưng tôi chấp nhận vui vẻ, nhất là tấm lòng của các bác sĩ người Pháp cũng như người Việt. Cứ nhìn họ là tôi không thấy lo nữa”.
Có lẽ không có phần thưởng nào xứng đáng hơn những lời nói ấy. Bệnh viện Việt – Pháp đã có một chỗ đứng vững chắc chắn không chỉ trong thị trường nội địa mà còn cả trong lòng những bệnh nhân của mình.
Hoàng Việt Hằng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 22 (187) 2001

Lịch sử xuất hiện thìa – dĩa – dao ăn

Ngày nay, trên bàn ăn tại các khách sạn, nhà hàng hoặc trong mỗi gia đình, thìa – dĩa – dao ăn.. đã trở thành đồ dùng quá quen thuộc đối với tất cả mọi người. Nhưng mấy ai để ý rằng, chúng xuất hiện từ bao giờ?
Thời cổ đại, thức ăn được mang đến để cắt sẵn hoặc để nguyên cả con thú nướng chín, người ăn dùng tay xé và bốc thức ăn. Trong những điều kiện như vậy, các dụng cụ nhà ăn chưa được nghĩ đến…
Năm 1071, chiếc dĩa 2 ngạnh lần đầu tiên xuất hiện tại đám cưới của quốc vương Venexia (Italia) lấy cô gái xứ Vizantia. Cô dâu đã mang chiếc dĩa ăn từ Constantinopol đến tiệc cưới rồi sử dụng nó trước sự ngạc nhiên của tất cả quan khách đang ăn… bốc! Lúc đó chưa có ai bắt chước cô dâu Vizantia và người châu u vẫn như trước: Họ quen dùng tay tiếp xúc trực tiếp với thức ăn. Ngoài ra, thời kỳ này vẫn chưa dùng đĩa đựng thức ăn cá nhân. Đĩa thường dùng là tấm gỗ nhỏ. Đôi khi những lát bánh mì được sử dụng như chiếc đĩa. Chủ nhà dùng chiếc thìa duy nhất tiếp thức ăn cho khách, các cốc rượu vang xếp thành vòng tròn.
Tình hình bắt đầu thay đổi vào cuối thời kỳ Trung cổ, khi thợ kim hoàn nhận đơn đặt hàng của một số triều đình Hoàng gia châu u làm bộ đồ ăn (thìa – dĩa – dao – môi múc canh…) hình thức rất đẹp bằng… vàng. Tất nhiên những bộ đồ ăn quý đó không dùng để… ăn mà chủ yếu chỉ trưng bày như một thứ mốt nhà giàu!
Năm 1493 tại bữa tiệc nhân chuyến thăm của quận công phu nhân Beatriche Milamscaija đến thành Venexia, người ta đã cho bày 300 chiếc đĩa bằng vàng và vô số thìa dĩa trang trí, chạm trổ rất đẹp. Và để đề phòng các vị khách… “cầm nhầm”, quản gia đã cử người giám sát chặt chẽ từng bàn tiệc (thực tế đã xảy ra một số vụ mất trộm thìa dĩa bằng vàng ngay tại bữa tiệc!).
Xin nhớ rằng: tại buổi tiệc này, quan khách vẫn tiếp tục ăn theo phương pháp truyền thống (ăn bốc). Nghi thức lúc bấy giờ vẫn chưa thay đổi, cái chính là rửa sạch tay trước và sau khi ăn! (Ăn bốc bằng 3 ngón tay, ngón út không sử dụng đến)!
Năm 1518 nhà buôn lụa người Pháp tên là Jac Lesefe khi dự tiệc ở Venexia đã ngạc nhiên viết: “Ở đây người ta xơi thịt bằng những chiếc dĩa bạc tiện lợi”.
Năm 1580 theo sáng kiến của Vua Hendric III, dĩa xâm nhập từ Italia sang Pháp. Mãi đầu thế kỷ 19 đa số dĩa mới chỉ có 2 răng. Dĩa 4 răng xuất hiện trên bàn ăn vào năm 1880. Đầu thế kỷ 17 dĩa xuất hiện ở Anh rồi muộn hơn lan dần khắp châu u, nó là lãnh địa của những quý tộc giàu có.
Năm 1742, Tomas Banlzover ở Sheffild (Anh) đã chế tạo bộ đồ ăn rẻ tiền hơn làm bằng chất liệu bạc, đồng. Điều này dẫn đến bùng nổ việc sản xuất chúng trang bị cho khách sạn, nhà hàng, gia đình… Đã xuất hiện thìa uống cà phê, thìa uống trà đường có hình dạng ô van vào giữa thế kỷ 18, sau đó là dĩa cán cân, dao ăn chuyên dụng loại sắt và loại có răng cưa… Vậy là, cùng với sự ra đời của dao, thìa, dĩa, quan niệm dùng thức ăn không tiếp xúc với nó (ăn bốc hoặc dùng tay xé) đã chấm dứt.
NG. Đức Hải – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

Pata tăng cường hợp tác với Việt Nam

Pata tăng cường hợp tác với Việt Nam
Đã trở thành truyền thống, hằng năm Chi hội Pata đều nhận được sự giúp đỡ thiết thực của Pata Trung ương (TW) về lĩnh vực cung cấp thông tin, tuyên truyền quảng bá, đào tạo dưới các hình thức, tư vấn xây dựng các đề án phát triển.
Tiếp tục triển khai các chương trình hợp tác nói trên, mới đây, đại diện Ban chấp hành Chi hội Pata Việt Nam (có đại diện của hàng không Việt Nam) và Pata Trung ương, đã thống nhất 3 nội dung chính gồm: thành lập nhóm công tác khảo sát du lịch Việt Nam, tăng cường hợp tác giữa các cho hội Pata, xúc tiến xây dựng kế hoạch Việt Nam đăng cai tổ chức Diễn đàn Du lịch Mê Kông lần thứ 7 vào năm 2002.
Nhóm công tác gồm 5 chuyên gia của Pata Trung ương và một số đại diện của Việt Nam, sẽ khảo sát, đánh giá về sản phẩm du lịch văn hóa tại khu vực miền Bắc Việt Nam, tập trung vào Hà Nội và vùng lân cận. Thời gian thực hiện trong một tuần, vào cuối tháng 5 hoặc đầu tháng 6 năm 2001. Nhóm công tác sẽ tổ chức hội nghị cáo kết quả và đặt ra các vấn đề cần quan tâm. Ngay sau đó, Pata Trung ương sẽ giúp tiến hành khóa đào tạo cho Chi hội viên của Việt Nam vào thời gian diễn ra Đại hội thường niên Chi hội Pata Việt Nam, tương tự như khóa học ở Đà Nẵng tháng 7 năm 2000.
Để tăng cường sự hợp tác giữa các Chi hội Pata các quốc gia, Pata Việt Nam nhất trí về nguyên tắc với đề xuất của Pata Trung ương về việc thành lập Chi hội Pata khu vực Mê Kông. Đây là liên kết nhằm mục đích tăng cường xúc tiến du lịch vì lợi ích của các doanh nghiệp thành viên, giữa các Chi hội Việt Nam, Thái Lan, Myanmar, Lào, Campuchia, tỉnh Vân Nam Trung Quốc… Pata Trung ương cũng nhất trí sẽ hỗ trợ chi hội Pata Việt Nam đẩy mạnh quan hệ với các Chi hội tại các địa bàn khác xa hơn. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp du lịch Việt Nam mở rộng phạm vi đối tác liên kết làm ăn, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm của từng thị trường, khu vực cụ thể…hoàn toàn phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế của nền kinh tế đất nước.
Có khả năng du lịch Việt Nam có khả năng sẽ đăng cai Diễn đàn Du lịch Mê Kông lần thứ 7, dự kiến vào đầu tháng 4/2002, theo gợi ý của Pata. Đây là diễn đàn của Du lịch có uy tín do Pata, ADB (Ngân hàng phát triển Châu Á) và ESCAP (Ủy ban Kinh tế – Xã hội Châu Á – Thái Bình Dương) tổ chức thường niên theo thể thức luân phiên giữa các nước trong tiểu vùng Mê Kông. Đăng cai Diễn đàn này, Việt Nam có cơ hội quảng bá rộng rãi trong khu vực về mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội trong đó có du lịch.
Câu lạc bội các doanh nghiệp du lịch Hà Nội sinh hoạt thường kỳ thánh 3/2001.
Quý I – 2001, mức tăng thưởng về lượng khách du lịch quốc tế ngành Du lịch Hà Nội ước đạt 70%
Đây là lần đầu tiên trong buổi sinh hoạt thường kỳ của Câu lạc bộ các doanh nghiệp Du lịch Hà Nội, có đại diện Ban tài chính – Vật giá Chính phủ, Tổng cục Du lịch, Sở du lịch Hà Nội tham dự.
Phó Tổng công ty Tổng cục Du lịch Phạm Từ đã thông báo hình thành hoạt động du lịch trên thế giới, khu vực và trong nước. trong đó nhấn mạnh, Việt Nam và các nước trong khu vực đang là điểm hướng tới mở rộng thị trường của nhiều hãng du lịch trên thế giới.
Ông Nguyễn Quang Lân, Giám đốc Sở Du lịch Hà Nội cho biết, từ ngày 1/1 đến 12/3/2001, Du lịch Hà Nội đón 120.000 lượt khách du lịch quốc tế, vượt 20% so với cả 3 tháng đầu năm 2000. Dự kiến quý I năm 2001, ngành Du lịch Hà Nội sẽ đạt mức tăng trưởng về lượng khách quốc tế tới 70%. Đã có 18 quốc gia có lượng khách đến Việt Nam đạt con số 4 chữ số. Nếu năm 2000, lượng khách Trung Quốc chiếm vị trí đầu bảng, thì sang quý I năm nay thì phải chịu lùi xuống hàng thứ 2 với 15.193 lượt khách, Pháp đứng đầu bảng với 17.855 lượt khách. Các vị trí tiếp theo gồm: Nhật Bản đứng thứ 3 với 10.663 lượt khách, thứ 4 Mỹ với 8.811 lượt khách, thứ 5 Úc với 6.830 lượt khách. Ông Nguyễn Quang Lân lưu ý rằng, số khách trên đây chỉ là phản ánh 70% so với thực đến Hà Nội trong cùng thời gian.
Tại buổi sinh hoạt, các doanh nghiệp tiếp tục kiến nghị các vấn đề bất cập, giúp doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn đang tồn đọng như: giá điện, giá cước bưu điện trong kinh doanh khách sạn, 5% chênh lệch thuế vận chuyển khách… đnag làm tăng chi phí đầu vào của doanh nghiệp.
Hoàng Ly – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 12 (177) 2001